Xuất Xứ: Việt Nam Chất Liệu: Nhựa HDPE cao cấp, bền bỉ Công Dụng: Thu gom rác thải sinh hoạt và rác thải công cộng Độ Bền: Chịu va đập tốt, không giòn gãy, hạn chế lão hóa dưới tác động của nắng mưa Thiết Kế: Kiểu dáng chắc chắn, bề mặt nhẵn bóng dễ vệ sinh, nắp kín giúp hạn chế mùi hôi và đảm bảo vệ sinh môi trường
Chất Liệu: Sử Dụng Nhựa Cao Cấp Có Độ Bền Cao, Chịu Va Đập Tốt, Dễ Lau Chùi Và Vệ Sinh Trong Quá Trình Sử Dụng. Tiêu Chuẩn: Sản Phẩm Đáp Ứng Các Tiêu Chuẩn Chất Lượng Quốc Tế, Đảm Bảo An Toàn Cho Người Dùng Và Thân Thiện Với Môi Trường. Thiết Kế: Kiểu Dáng Thực Dụng Với Nắp Đóng Mở Linh Hoạt, Phù Hợp Cho Khu Công Cộng, Nhà Máy, Trường Học Và Nhiều Không Gian Khác. Công Dụng: Dùng Để Thu Gom Rác Sinh Hoạt Và Rác Công Nghiệp Nhẹ Hằng Ngày, Góp Phần Giữ Gìn Môi Trường Sạch Sẽ, Ngăn Nắp.
Chọn Thùng Rác Bắt Đầu Từ Câu Hỏi Ai Sẽ Chạm Vào Nó
Cùng là chỗ chứa rác nhưng chiếc thùng đặt ở sảnh văn phòng và chiếc thùng đặt ở bãi tập kết của nhà máy có yêu cầu gần như trái ngược. Chiếc thứ nhất do người ở lại lâu dài sử dụng, nên ưu tiên mỹ quan, khử mùi và không chiếm chỗ. Chiếc thứ hai do người vận hành xử lý bằng xe kéo và xe cuốn ép, nên ưu tiên khả năng chịu va đập, chịu tải và khớp với thiết bị nâng. Thùng rác công nghiệp thuộc nhóm thiết bị vệ sinh khu vực, thường được mua cùng đợt với đồ bảo hộ lao động cho bộ phận vệ sinh.
Vì thế câu hỏi đầu tiên không phải là dung tích bao nhiêu lít mà là ai sẽ chạm vào chiếc thùng này và họ làm gì với nó. Người lạ đi ngang bỏ rác cần miệng thùng rộng và không phải chạm tay; nhân viên vệ sinh cần thùng có bánh xe và nắp mở dễ; xe cuốn ép cần thùng đúng kích thước ngàm nâng.
Câu hỏi thứ hai là chiếc thùng đứng trong nhà hay ngoài trời. Ngoài trời phải chịu nắng làm giòn nhựa, chịu mưa đọng nước bên trong và chịu gió làm đổ. Trong nhà thì mùi và mỹ quan quan trọng hơn nhiều so với độ bền cơ học.
Theo quy mô vận hành, nhóm thùng cho nhà máy và khu công nghiệp có dung tích lớn, có bánh xe chịu tải và có kích thước khớp với xe thu gom. Đây là nhóm mà việc chọn sai kích thước gây hậu quả vận hành rõ nhất, vì thùng không khớp ngàm nâng thì phải đổ thủ công.
Ngoài ba trục trên, còn một nhóm chọn theo dung tích cụ thể để khớp với thiết bị và với không gian có sẵn. Các cỡ phổ biến trên thị trường Việt Nam chia thành ba khoảng: cỡ nhỏ dùng trong nhà và trong phòng, cỡ trung cho hành lang và khu bếp, cỡ lớn cho điểm tập kết và cho xe cuốn ép. Khi mua bổ sung, nên ghi rõ dung tích và mã dòng thay vì mô tả bằng lời, vì hai chiếc thùng cùng dung tích có thể khác nhau về kích thước ngàm nâng và về kiểu bánh xe.
Trong dải cỡ trung, cỡ 60 lít cho hành lang và khu bếp là mốc được hỏi nhiều nhất, vì đây là ngưỡng cuối cùng mà một người còn nhấc bao rác ra được mà không cần xe kéo.
Dung Tích Chọn Theo Sức Người Và Theo Chu Kỳ Thu Gom
Sai lầm thường gặp là chọn thùng thật lớn để đỡ phải đổ nhiều lần. Vấn đề là một chiếc thùng lớn khi đầy sẽ nặng tới mức một người không kéo nổi, và nhân viên vệ sinh sẽ xử lý bằng cách chỉ đổ khi thùng vơi hoặc lôi bao rác ra từng phần, cả hai đều làm hỏng mục đích ban đầu.
Cách tính đúng đi từ hai đầu. Đầu thứ nhất là lượng rác phát sinh giữa hai lần thu gom tại vị trí đó; thùng phải chứa được lượng đó cộng phần dự phòng, nếu không rác sẽ chất quanh chân thùng. Đầu thứ hai là khả năng của người hoặc thiết bị xử lý: nếu đổ bằng tay thì thùng phải trong tầm nâng của một người, nếu kéo bằng xe thì phải có bánh và tay kéo phù hợp.
Khi hai đầu không gặp nhau, giải pháp là tăng số thùng chứ không tăng dung tích. Nhiều thùng vừa phải đặt gần nơi phát sinh luôn hiệu quả hơn một thùng lớn đặt xa, vì khoảng cách từ chỗ có rác tới thùng quyết định người ta có bỏ rác đúng chỗ hay không.
Một cách kiểm nhanh xem bố trí đã hợp lý chưa: đi một vòng vào cuối ca và tìm những chỗ có rác nằm ngoài thùng. Mỗi điểm như vậy là một chỉ dấu, và nguyên nhân gần như luôn thuộc một trong ba loại: thùng quá xa nơi phát sinh, thùng đã đầy trước chu kỳ thu gom, hoặc miệng thùng khó dùng khi tay đang bận. Sửa đúng nguyên nhân rẻ hơn nhiều so với việc tăng tần suất dọn dẹp.
Phân Loại Tại Nguồn Chỉ Chạy Được Khi Bố Trí Đúng
Nhiều cơ sở mua bộ thùng phân loại nhiều màu rồi thấy rác vẫn lẫn lộn. Nguyên nhân hầu như luôn nằm ở bố trí chứ không nằm ở ý thức. Nếu ba thùng phân loại đặt cùng một chỗ nhưng cách bàn làm việc mười mét, người ta sẽ bỏ vào bất kỳ thùng nào gần nhất trên đường đi.
Nguyên tắc bố trí gồm ba điểm. Thứ nhất, các thùng phân loại phải luôn đứng thành cụm cạnh nhau, không tách rời, vì tách rời nghĩa là người ta chỉ dùng thùng gần nhất. Thứ hai, cụm thùng phải đặt tại điểm rác phát sinh chứ không đặt tại điểm tiện cho người thu gom. Thứ ba, nhãn phải bằng hình ảnh vật cụ thể chứ không bằng chữ trừu tượng, vì người bỏ rác quyết định trong khoảng một giây.
Điểm cuối cùng và quan trọng nhất: nếu khâu thu gom phía sau vẫn dồn chung tất cả vào một xe, việc phân loại ở đầu vào sẽ chết trong vài tuần vì mọi người đều nhìn thấy điều đó. Phân loại tại nguồn chỉ có ý nghĩa khi cả chuỗi phía sau giữ được sự tách biệt.
Người thu gom cũng cần được tính vào phương án chứ không chỉ chiếc thùng. Rác công nghiệp và rác sinh hoạt đều có thể chứa vật sắc, thuỷ tinh vỡ và chất lỏng, nên đội vệ sinh cần găng dày và giày đế chống đâm xuyên. Cách bố trí thùng cũng nên tính tới thao tác của họ: thùng đặt sát tường không kéo ra được, thùng đặt trên bậc phải khiêng, và cả hai đều dẫn tới việc rác bị để tạm bên ngoài thay vì bỏ vào thùng.
Vệ Sinh Thùng, Xử Lý Mùi Và Thời Điểm Thay
Thùng rác cần được rửa định kỳ chứ không chỉ thay bao. Chất lỏng rò từ bao rác đọng dưới đáy là nguồn mùi chính, và nó không biến mất khi thay bao mới. Với thùng ngoài trời, cần kiểm và đục lỗ thoát ở đáy nếu chưa có, vì nước mưa đọng lại vừa nặng vừa sinh mùi và muỗi.
Dùng bao rác đúng cỡ cũng là chi tiết ảnh hưởng trực tiếp. Bao quá nhỏ tụt xuống trong thùng và rác rơi ra ngoài bao; bao quá lớn thừa nhiều mép và tốn chi phí. Với thùng có gờ giữ bao, nên chọn đúng dòng để tận dụng chi tiết này.
Nên thay thùng khi: nhựa đã bạc màu và giòn tới mức nứt khi va chạm nhẹ, bánh xe kẹt hoặc gãy, bản lề nắp gãy khiến nắp không đóng được, chân đế nứt làm thùng đứng không vững, và khi mùi đã ngấm vào vật liệu không xử lý được bằng rửa. Riêng nhựa giòn là dấu hiệu đáng chú ý với thùng ngoài trời, vì thùng khi đó sẽ vỡ vụn thay vì móp khi bị va, và mảnh vỡ sắc lại thành nguy cơ cho người thu gom.
Với đơn hàng thay mới cho cả cơ sở, nên thay theo cụm khu vực thay vì thay đồng loạt. Cách này giữ được tính đồng bộ về màu trong từng khu, và cho phép rút kinh nghiệm từ khu đầu tiên trước khi đặt phần còn lại. Những điều rút ra thường rất cụ thể và không đoán trước được trên bản vẽ: một vị trí tưởng hợp lý nhưng chắn lối xe đẩy, một cỡ thùng vừa với lượng rác nhưng lại không lọt qua cửa kho.
Thùng Rác Ngoài Trời Khác Thùng Trong Nhà Ở Ba Điểm
Ba điểm khác biệt dưới đây quyết định thùng nào đặt được ngoài trời lâu dài.
Chất Liệu Phải Chịu Được Nắng Và Mưa Quanh Năm
Thùng đặt ngoài trời chịu tia cực tím liên tục, và đó là nguyên nhân làm nhựa bạc màu rồi giòn dần cho tới khi nứt ở mép nắp. Loại dùng trong nhà không có phụ gia chống tia cực tím nên đem ra sân hay vỉa hè thường hỏng sau một mùa nắng. Khi đặt hàng cho khu vực ngoài trời, hãy hỏi rõ vật liệu có phụ gia kháng tia cực tím hay không thay vì chỉ so độ dày thành thùng.
Chống Lật Và Chống Lấy Trộm
Gió mạnh và người nhặt ve chai là hai lý do thùng ngoài trời hay biến mất hoặc đổ tung. Cách xử lý thông dụng là bắt bulông chân thùng xuống nền, hoặc dùng loại có khung giá cố định. Với khu công cộng đông người, nắp có bản lề khoá được cũng giúp giữ rác trong thùng khi trời mưa to.
Thoát Nước Đáy Thùng
Chi tiết nhỏ nhưng hay bị bỏ qua: thùng ngoài trời cần lỗ thoát nước ở đáy, nếu không nước mưa đọng lại sẽ làm rác phân huỷ nhanh và sinh mùi nặng hơn hẳn. Nếu thùng không có sẵn lỗ thoát, bộ phận bảo trì có thể khoan bổ sung, nhưng phải đặt ở vị trí không làm nước bẩn chảy tràn ra lối đi.
Hai Dung Tích Thùng Rác Dùng Nhiều Nhất
Khu vực hành lang và văn phòng hợp với thùng rác 120L vì đẩy được qua cửa hẹp. Bãi tập kết và nhà xưởng lớn cần thùng rác 240L để giảm số lần thu gom mỗi ngày.