Máy Dò Khí Công Nghiệp: Phân Loại Và Cách Chọn

Cùng gọi là máy dò khí công nghiệp, nhưng một chiếc đeo ở cổ áo công nhân và một hộp gắn cố định trên tường kho gas là hai dòng thiết bị khác hẳn nhau về cách dùng, cách lắp và chi phí vận hành. Chọn sai dòng thì máy vẫn chạy đúng thông số ghi trên nhãn, chỉ có điều nó không nằm ở chỗ cần và không nằm trong tay người cần. Bài viết này chỉ làm một việc: phân loại các dòng máy đang bán trên thị trường và chỉ ra dòng nào hợp với hiện trạng nào.

Máy Dò Khí Nằm Ở Đâu Trong Bộ Thiết Bị Khí

Trước khi so sánh các dòng, cần tách máy dò khí ra khỏi những thiết bị hay bị gọi chung tên:

  • Máy dò khí: đo nồng độ và cảnh báo. Nó không lọc, không cấp khí thở, không dập đám cháy.
  • Đầu báo khói và báo nhiệt: thuộc hệ báo cháy, phản ứng với sản phẩm cháy chứ không phải với khí rò — xem nhóm đầu báo khói.
  • Mặt nạ và bình thở: bảo vệ người sau khi đã biết có khí; nhóm bình thở phục vụ tình huống thoát hiểm và cứu hộ. Chúng đi sau máy đo chứ không thay được máy đo.

Ba nhóm trên thường được mua chung một đơn cho khu vực có khí, nhưng chúng thuộc ba dòng ngân sách và ba lịch bảo trì khác nhau. Viết chung một dòng “thiết bị an toàn khí” trong hồ sơ sẽ gây rắc rối ngay từ lần kiểm đầu tiên.

Bình thở thoát hiểm đặt sẵn cạnh cửa hầm, dùng sau khi máy đo đã báo động

Bốn Trục Phân Loại Máy Dò Khí Công Nghiệp

Gần như mọi mã máy trên catalogue đều xếp được theo bốn trục dưới đây, và nắm bốn trục ấy là đọc được phần lớn bảng báo giá:

  • Số loại khí đo được: đơn khí hay đa khí.
  • Cách đặt thiết bị: cầm tay mang theo người hay cố định lắp tường.
  • Cách đưa mẫu khí tới cảm biến: khuếch tán tự nhiên hay có bơm hút.
  • Người chịu trách nhiệm: máy cá nhân theo người hay máy đặt vùng dùng chung.

Một nhà máy hiếm khi chỉ cần một ô trong bốn trục. Thực tế là vài cấu hình song song: máy cố định canh khu rủi ro thường trực, máy cầm tay cho đội bảo trì, máy cá nhân cho người trực ca.

Máy Đơn Khí Và Máy Đa Khí

Máy đơn khí chỉ theo dõi một loại, thường là CO, H2S, O2 hoặc khí cháy. Ưu điểm là nhỏ, nhẹ, rẻ hơn và nhiều mẫu thiết kế theo kiểu dùng hết vòng đời rồi bỏ, không thay cảm biến — hợp với đơn vị không muốn lập đội bảo trì riêng. Nhược điểm là nó im lặng trước mọi loại khí khác, kể cả loại nguy hiểm hơn.

Máy đa khí gộp bốn thông số hay gặp nhất vào một thân máy và là lựa chọn mặc định cho công việc chưa biết trước sẽ gặp gì. Một số dòng cho phép đặt thêm một cảm biến đặc thù theo ngành, ví dụ SO2 cho xưởng giấy hay NH3 cho kho lạnh. Khi so giá hai dòng này, điều đáng hỏi không phải giá máy mà là giá của từng cảm biến thay thế và có sẵn hàng trong nước hay không.

Quy tắc thực dụng: chỉ dùng đơn khí khi đánh giá rủi ro kết luận chắc chắn khu vực chỉ có một nguy cơ cố định; còn nghi ngờ thì chọn đa khí. Phần việc đọc số liệu và quy trình đo thực địa đã có bài chuyên sâu riêng.

Máy dò khí cầm tay cỡ nhỏ mang theo người khi đi kiểm tra tuyến ống

Máy Cầm Tay Và Máy Cố Định Lắp Tường

Hai dòng này khác nhau ở chỗ ai mang rủi ro:

  • Máy cầm tay đi theo người, chỉ canh được chỗ người đứng. Hợp với đội bảo trì, đội kiểm tra tuyến ống, đội cứu hộ di chuyển liên tục. Chi phí đầu tư thấp, nhưng phụ thuộc vào việc người dùng có mang theo hay để quên trong tủ.
  • Máy cố định gắn tại điểm rủi ro và canh liên tục, kể cả ban đêm khi không có ai trong khu vực. Thường được đấu về tủ báo động trung tâm, một số trường hợp kích luôn quạt hút hoặc van ngắt.

Khi lắp máy cố định, điều quyết định kết quả là độ cao đặt đầu dò, vì khí nặng hơn không khí đọng dưới thấp còn khí nhẹ hơn bay lên trần. Đặt sai tầng cao là kiểu lắp “cho có” phổ biến nhất ở kho chứa. Chi tiết cho nhóm khí hóa lỏng nằm ở danh mục máy phát hiện rò rỉ gas.

Chọn độ cao lắp không cần phỏng đoán, vì mỗi loại khí có một trị số tỉ trọng hơi so với không khí, lấy không khí làm mốc 1,0. Propan, butan, hơi xăng và hydro sunfua đều nặng hơn mốc đó nên đọng thành lớp sát nền, đầu dò phải đặt thấp hơn vùng hô hấp. Metan, hydro và amoniac nhẹ hơn 1,0 nên dồn lên trần, đầu dò treo cao. Trị số này in ngay trong phiếu an toàn hoá chất của chính loại khí đang chứa, ở mục tính chất vật lý, nên khi lập sơ đồ điểm lắp thì cầm phiếu đó mà tra, đừng hỏi lại người bán máy.

Từ trị số tỉ trọng ra được độ cao đặt đầu dò, và độ cao ấy nên ghi bằng centimet trong bản vẽ lắp đặt chứ không ghi là gần sàn hay gần trần. Với nhóm khí nặng hơn không khí, hướng dẫn lắp đặt của các hãng thường đặt tâm đầu dò cách mặt sàn khoảng 30 cm, đủ thấp để bắt lớp khí đọng nhưng vẫn cao hơn mức nước và bùn khi rửa sàn. Với nhóm nhẹ hơn, đầu dò treo cách trần cũng khoảng chừng ấy, và phải tránh đặt ngay dưới xà hay trong hốc kín vì khí sẽ tụ ở túi cao nhất chứ không ở chỗ mình treo máy. Ghi độ cao thực tế đã lắp vào hồ sơ để lần bảo trì sau còn lắp lại đúng chỗ.

Máy Có Bơm Hút Và Máy Khuếch Tán

Đây là trục quyết định máy có dùng được cho công việc hay không:

  • Máy khuếch tán: không khí tự lọt vào cửa cảm biến. Ít chi tiết chuyển động, pin lâu hết, giá mềm hơn. Phù hợp khi người đeo máy đứng ngay tại vị trí cần biết nồng độ.
  • Máy có bơm tích hợp: bơm nằm trong thân máy, kèm đầu dò và đoạn ống mềm. Dùng khi cần biết tình trạng bên trong một không gian trước lúc có người bước vào.
  • Máy khuếch tán gắn thêm bơm rời: giải pháp trung gian, mục đích là dùng chung một thân máy cho hai kiểu việc. Bù lại, phần gá lắp là điểm hỏng thêm và cần kiểm kín trước mỗi lần dùng.

Ống lấy mẫu và đầu dò là vật tư tiêu hao, không phải phụ kiện mua một lần. Khi lập dự toán, nên tính luôn ống thay thế và bộ lọc đầu ống cho cả năm.

Bảng thông số của ba loại cảm biến dùng ba đơn vị khác nhau, và đây là chỗ đọc báo giá hay bị nhầm. Khí cháy đo theo phần trăm giới hạn cháy dưới, viết tắt là %LEL; khí độc như CO hay H2S đo theo phần triệu, viết tắt là ppm; oxy đo theo phần trăm thể tích. Một máy quảng cáo là bốn khí phải công bố đủ ba đơn vị đó kèm dải đo của từng kênh, ví dụ kênh oxy chạy trong khoảng bao nhiêu tới bao nhiêu phần trăm thể tích. Báo giá chỉ ghi tên khí mà không ghi đơn vị và dải đo thì chưa đủ để so với báo giá khác.

Máy Cá Nhân Đeo Cổ Áo Và Máy Đặt Vùng

Máy cá nhân có kẹp áo hoặc móc dây đeo, kích thước bằng bao thuốc, báo động bằng rung để người đeo cảm nhận được trong tiếng ồn. Nguyên tắc đeo là đặt gần vùng thở, tức khoảng cổ áo hoặc ve áo, không để trong túi quần hay treo ở đai lưng — chỗ đó chỉ cho biết nồng độ quanh hông người đeo.

Máy đặt vùng là loại có pin lớn, thân chắc, đặt xuống sàn hoặc treo tại một điểm trong suốt thời gian thi công, có còi và đèn đủ lớn để cảnh báo cho cả nhóm. Đây là dòng hợp với các đợt sửa chữa ngắn ngày mà không muốn đầu tư hệ cố định: hết việc thì thu về kho.

Một số nhà máy dùng kiểu cấp phát theo ca: máy nằm trong tủ sạc đặt ở phòng giao ca, ai nhận ca thì lấy một chiếc và trả lại khi hết ca. Cách này giảm số máy phải mua, nhưng đòi hỏi sổ giao nhận rõ ràng để biết chiếc nào đang ở đâu khi cần truy lại. Tủ giao ca cũng là chỗ hợp lý để xếp sẵn trang bị thoát hiểm đi kèm, vì người nhận máy cũng chính là người sẽ cần tới chúng.

Bình thở dự phòng xếp sẵn trong tủ giao ca cùng máy đo cá nhân

Chọn Cấu Hình Theo Ngành Và Dựng Cho Một Nhà Máy

Một số cấu hình thường gặp, lấy theo hiện trạng chứ không theo tên ngành trên giấy phép:

  • Kho và trạm chiết nạp gas: máy cố định đặt thấp gần sàn cho khí nặng, kèm một máy cầm tay để dò mối nối khi nghi rò.
  • Trạm xử lý nước thải, hầm cống: máy đa khí có bơm cho đội vào làm, cộng máy đặt vùng kê ngay miệng hố trong toàn bộ khoảng thời gian còn người làm việc phía dưới.
  • Hầm cáp và hầm kỹ thuật toà nhà: máy cầm tay cho đội bảo trì, ưu tiên loại gọn và có đèn vì không gian tối và hẹp.
  • Xưởng sơn và khu dùng dung môi: máy cố định theo dõi khí cháy đặt gần buồng phun, kết nối với hệ thông gió.

Cách dựng danh mục cho cả nhà máy nên làm theo bốn bước: vẽ sơ đồ mặt bằng rồi đánh dấu điểm có thể sinh khí; ghi tên khí và tính chất nặng nhẹ ở từng điểm; chọn dòng máy cho từng điểm theo bốn trục ở trên; cuối cùng cộng thêm số máy dự phòng cho đợt gửi đi bảo dưỡng. Bước cuối hay bị bỏ, và hậu quả là cả xưởng trống thiết bị đo trong những ngày máy đi vắng.

Khi soạn quy định nội bộ, một tham chiếu đáng đọc là trang chuyên đề của cơ quan OSHA về khu vực kín khó ra vào, nơi liệt kê những dạng mặt bằng bị xếp vào nhóm rủi ro cao và lý do đi kèm.

Mặt nạ trùm kín có bình thở trang bị cho đội vào khu vực đã báo động khí

Câu Hỏi Thường Gặp Khi Phân Loại Máy Dò Khí

Có Máy Cố Định Rồi Có Cần Máy Cầm Tay Nữa Không?

Có. Máy cố định canh một điểm đã biết trước, còn người đi bảo trì lại đứng ở những chỗ không ai đặt đầu dò — gầm máy, sau bể, trong hố kỹ thuật.

Máy Cầm Tay Có Dùng Thay Đầu Báo Khói Được Không?

Không. Hai thiết bị phản ứng với hai hiện tượng khác nhau và thuộc hai hệ thống khác nhau. Khu có cả nguy cơ cháy lẫn nguy cơ rò khí thì phải có đủ cả hai.

Mua Máy Đa Khí Đắt Hơn Có Đáng Không Khi Chỉ Cần Đo Oxy?

Nếu hiện trạng chỉ có nguy cơ thiếu oxy đã được đánh giá rõ thì đơn khí đủ dùng. Nhưng khu vực có cống, bùn lắng hoặc chất hữu cơ phân huỷ thì rất hiếm khi chỉ có một nguy cơ.

Máy Đặt Vùng Có Thay Được Máy Cá Nhân Không?

Không, vì nó đứng yên một chỗ trong khi người thì di chuyển. Cách dùng đúng là hai loại bổ sung cho nhau trong cùng một ca làm việc.

Bảo Hộ Xanh cung cấp máy dò khí đơn khí và đa khí, loại cầm tay và loại lắp cố định, kèm vật tư thay thế; hỗ trợ lập danh mục theo sơ đồ mặt bằng và số điểm có nguy cơ của từng nhà máy.

Lịch hiệu chuẩn kèm khí chuẩn tương ứng cho từng loại cảm biến là thứ phải thống nhất ngay lúc ký hợp đồng; cảm biến điện hóa suy giảm dần theo thời gian nên máy vẫn khởi động được không có nghĩa là còn đo đúng.

Buổi nhận máy nên có ba việc đối chiếu bằng giấy tờ thay vì chỉ mở hộp bật nguồn. Việc thứ nhất là so số sê-ri in trên thân máy với số ghi trên giấy hiệu chuẩn xuất xưởng; hai số lệch nhau nghĩa là giấy thuộc về một chiếc máy khác. Việc thứ hai là đọc ngày sản xuất in trên vỏ từng cảm biến, vì tuổi thọ của cảm biến bắt đầu tính từ lúc xuất xưởng chứ không từ lúc lắp vào máy, và một lô hàng tồn kho lâu có thể giao tới xưởng khi cảm biến đã đi hết một phần vòng đời. Việc thứ ba là kiểm hạn dùng in trên bình khí chuẩn giao kèm.

Hai thao tác khác nhau hay bị gọi gộp thành một. Phép thử phun khí, quen gọi là bump test, là xả khí chuẩn có nồng độ nằm trên ngưỡng báo động vào cửa cảm biến trong vài giây rồi xác nhận máy hú còi, nháy đèn và rung đủ ba thứ; nó chỉ trả lời câu hỏi cảm biến còn phản ứng hay đã chết. Hiệu chuẩn thì khác: dùng khí chuẩn có nồng độ ghi sẵn trên bình để chỉnh lại quan hệ giữa nồng độ thật và con số hiển thị, và phải làm trong điều kiện lưu lượng do nhà sản xuất quy định. Sổ theo dõi nên có hai cột ngày riêng cho hai thao tác này, kèm số lô và hạn dùng của chính bình khí chuẩn đã dùng.

Để lại một bình luận