Đồng Phục Bệnh Viện Và Những Điều Cần Biết

Một bệnh viện thường không mua đồng phục theo kiểu thấy mẫu đẹp thì đặt. Đó là một gói mua sắm có kế hoạch, có dự trù, có hồ sơ và có biên bản. Người chủ trì thường là phòng hành chính quản trị hoặc phòng vật tư, còn người phải mặc lại là hàng trăm nhân viên rải ở nhiều khoa với đặc thù công việc khác nhau.

Bài này đi theo trình tự công việc của người làm gói thầu: từ lúc đếm đầu người để lập dự trù, viết phần mô tả hàng hoá, chấm thầu, duyệt mẫu đối chứng, cho đến lúc nhận hàng chia đợt về từng khoa. Đây là những khâu quyết định lô đồ mặc được bao lâu.

Mua Sắm Đồng Phục Bệnh Viện Bắt Đầu Từ Đâu

Điểm bắt đầu không phải cuốn catalogue mà là danh sách vị trí công việc đang có. Mỗi vị trí được gắn với một bộ trang phục cụ thể, một số lượng bộ cấp mỗi kỳ và một chu kỳ thay mới. Khi danh sách này chưa rõ, mọi con số phía sau đều là ước lượng.

Kế hoạch thường được lập theo kỳ ngân sách, kèm căn cứ pháp lý về mua sắm tài sản công đối với đơn vị công lập. Bản tra cứu văn bản trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là nơi đối chiếu quy định hiện hành trước khi chốt hình thức lựa chọn nhà thầu. Cơ sở tư nhân linh hoạt hơn nhưng vẫn nên giữ nguyên bộ hồ sơ kỹ thuật, vì đó mới là thứ ràng buộc nhà cung cấp.

Một việc nên làm sớm là phân gói. Đồ mặc của nhân viên, đồ mặc của người bệnh và vật tư dùng một lần là ba nhóm có tiêu chí khác hẳn nhau. Gộp chung vào một gói sẽ buộc bên chấm phải so những thứ không so được với nhau. Các dòng hàng thuộc nhóm đồng phục mặc hằng ngày tại bệnh viện nên nằm riêng một gói với tiêu chí riêng.

Nhân viên y tế mặc đồng phục bệnh viện đồng bộ tại khu khám bệnh

Lập Dự Trù Theo Đầu Người Hay Theo Ca Làm

Khối lâm sàng thường được tính theo đầu người, vì bộ đồ gắn với cá nhân và có biển tên riêng. Số bộ cấp phải đủ để một người luôn có bộ sạch trong khi bộ khác đang ở nhà giặt, kèm tối thiểu một bộ dự phòng cho tình huống dây bẩn giữa ca.

Khối phục vụ lại khác. Bộ phận dinh dưỡng, nhà giặt và khu kỹ thuật vận hành theo ca, nhiều nơi dùng đồ dùng chung theo vị trí thay vì cấp riêng từng người. Khi đó số bộ tính theo số chỗ làm nhân số ca cộng hệ số dự phòng. Nhóm trang phục nhà bếp dùng cho khu chế biến suất ăn cần tính riêng vì tiêu chí chọn vải và kiểu dáng không giống khối lâm sàng.

Đồ mặc của người bệnh không nên ghép vào bảng dự trù này. Cách tính, vòng luân chuyển và tỷ lệ hao hụt của nhóm đó vận hành theo một logic khác, và việc ghép chung thường làm lệch cả hai con số.

Cuối bảng dự trù nên có một dòng cho nhân sự tuyển giữa kỳ. Bệnh viện nào cũng nhận người mới sau khi lô hàng đã giao xong, và nếu không dự liệu trước thì người mới phải mặc đồ mượn trong nhiều tuần.

Phần Mô Tả Hàng Hoá Quyết Định Lô Hàng Nhận Được

Đây là phần hay bị viết sơ sài nhất và cũng là phần gây tranh cãi nhiều nhất về sau. Mô tả bằng tính từ thì không kiểm được: vải mềm, màu đẹp, đường may chắc đều là những cụm không có cách đo.

Những thông số nên ghi thành dòng riêng: thành phần sợi theo tỉ lệ phần trăm, khối lượng vải trên một mét vuông, kiểu dệt, mã màu tham chiếu, kiểu cổ, số túi và vị trí túi, loại chỉ, mật độ mũi may, loại cúc, quy cách thêu logo và nội dung nhãn hướng dẫn giặt. Mỗi dòng đều kiểm được bằng mắt hoặc bằng cân đo.

Bảng mô tả nên có thêm một cột nữa mà mẫu hồ sơ không in sẵn: cột cách kiểm. Mỗi dòng thông số ghi kèm ai kiểm, kiểm bằng dụng cụ gì và kiểm ở đâu, thì tới lúc nhận hàng không phải bàn lại. Vài ví dụ làm được ngay tại kho bệnh viện: khối lượng vải trên đơn vị diện tích kiểm bằng cách cắt mẫu qua một khuôn có diện tích cố định rồi cân trên cân điện tử hai số lẻ, lấy trung bình ba mẫu ở ba vị trí khác nhau của cây vải. Mật độ mũi may đếm trực tiếp trên một đoạn dài cố định bằng kính lúp. Vị trí túi đo bằng thước từ đường vai và từ nẹp cúc. Còn những dòng phải gửi phòng thử bên ngoài thì ghi rõ là gửi thử, kèm bên chịu chi phí — vì đó mới là chỗ hồ sơ hay tắc.

Nên yêu cầu nhà thầu nộp mẫu vải kèm hồ sơ, kích thước đủ để cầm và kéo thử. Nếu có yêu cầu về độ bền màu sau giặt hay độ co rút, phải ghi kèm phương pháp thử và ngưỡng chấp nhận, nếu không thì bỏ hẳn dòng đó thay vì viết chung chung.

Chỗ sơ hở lớn nhất nằm ở chính chữ giặt. Câu quảng cáo quen thuộc kiểu bền màu sau năm mươi lần giặt không kiểm được, vì không nói giặt theo chế độ nào; nước nóng hay nước ấm, máy trục ngang hay trục đứng, sấy lồng hay phơi nằm đều cho ra kết quả khác nhau. Bộ ISO 6330 sinh ra đúng để bịt lỗ hổng đó: nó mô tả các quy trình giặt và làm khô dùng riêng cho thử nghiệm hàng dệt, mỗi quy trình mang một mã, và một phép thử đầy đủ luôn là một quy trình giặt ghép với một quy trình làm khô. Vậy nên dòng viết đúng trong hồ sơ gồm ba mảnh: chế độ giặt ghi bằng mã, số chu kỳ, và ngưỡng chấp nhận sau chừng ấy chu kỳ. Thiếu mảnh nào thì cả dòng mất giá trị ràng buộc.

Với những dòng phổ thông và số lượng nhỏ, hàng thuộc nhóm đồng phục giao ngay là phương án rút ngắn thời gian đáng cân nhắc, nhất là khi cần bổ sung gấp vài cỡ lẻ.

Áo may sẵn treo trên giá chờ kiểm tra cỡ số và đường may

Tiêu Chí Chấm Thầu Dễ Bị Bỏ Sót

Phần lớn hồ sơ chỉ chấm năng lực tài chính và kinh nghiệm hợp đồng tương tự. Riêng hàng may mặc, còn vài tiêu chí ảnh hưởng trực tiếp đến vận hành mà hồ sơ hay quên hỏi.

Thứ nhất là cam kết lưu rập và lưu vải cùng lô nhuộm trong bao lâu. Không có cam kết này, lần bổ sung sau sẽ ra một sắc độ khác và nhìn rất rõ khi đứng cạnh nhau. Thứ hai là thời gian đáp ứng đơn bổ sung số lượng nhỏ. Thứ ba là phạm vi sửa chữa miễn phí đối với lỗi đường may và lệch cỡ.

Thông tin về gói thầu, biên bản mở thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu của các đơn vị công lập được đăng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Đọc lại vài gói cùng loại đã hoàn thành là cách nhanh nhất để thấy tiêu chí nào đang được dùng phổ biến.

Ngoài ba điểm trên, hồ sơ nên hỏi rõ nơi đặt xưởng và năng lực may trong một tuần. Đơn hàng vài trăm bộ giao trong thời gian ngắn đòi hỏi chuyền may bố trí riêng, còn nhà thầu nhận việc rồi thuê lại xưởng ngoài thường khó giữ độ đồng đều giữa các chuyền. Câu hỏi này không có sẵn trong biểu mẫu nên phải chủ động đưa vào phần yêu cầu năng lực.

Mẫu Đối Chứng Và Việc Niêm Phong Trước Khi Ký

Trước khi sản xuất hàng loạt, nhà thầu may một bộ mẫu đúng theo mô tả hàng hoá. Bộ này được hai bên xem trực tiếp, so từng dòng trong hồ sơ, rồi ký xác nhận lên thẻ đính kèm. Đây là lần cuối cùng để sửa trước khi mọi thứ nhân lên hàng trăm bộ.

Nên làm hai bộ mẫu giống nhau, niêm phong cả hai, mỗi bên giữ một. Khi lô hàng về mà có ý kiến về vải hoặc phom, bộ mẫu niêm phong là căn cứ đối chiếu chắc nhất, vì nó là vật thật chứ không phải câu chữ diễn giải được theo hai hướng. Kèm theo đó nên có ảnh chụp mặt trước, mặt sau và cận cảnh đường may, lưu cùng hồ sơ.

Biên bản duyệt mẫu nên ghi cả số hiệu lô vải đã dùng để may mẫu. Không có số hiệu, bên bán có thể giao vải cùng tên thương mại nhưng khác đợt dệt, và khác biệt chỉ lộ ra sau vài vòng giặt.

Bộ mẫu đồng phục ngành y được trưng bày để hai bên đối chiếu trước khi ký

Giao Hàng Chia Đợt Theo Khoa Phòng

Nhận toàn bộ lô hàng trong một lần nghe gọn nhưng rất khó kiểm. Hàng trăm bộ đổ vào kho, một hai người đếm không xuể, và lỗi chỉ lộ ra khi nhân viên mặc thử thì đã quá hạn đổi.

Cách làm dễ kiểm soát hơn là chia đợt theo khoa. Đợt đầu nhận cho một hai khoa có đủ cả nam và nữ, đủ dải cỡ từ nhỏ đến lớn. Nhân viên mặc thử trong vài ngày làm việc thật, ghi lại điểm vướng, rồi mới cho chạy tiếp các đợt sau.

Hợp đồng nên ghi rõ số ngày để báo lệch cỡ và số ngày để nhà thầu đổi xong. Tỉ lệ lệch cỡ vài phần trăm là chuyện bình thường với đơn hàng đông người, nên điều khoản này quan trọng hơn là việc cố ép tỉ lệ lệch về không.

Biên bản nhận từng đợt nên ghi số bộ theo cỡ chứ không chỉ ghi tổng. Kho đủ tổng số nhưng thiếu cỡ lớn là tình huống rất hay gặp, và chỉ lộ ra khi bảng kê tách theo cỡ. Người ký nhận nên có đại diện khoa sử dụng chứ không chỉ thủ kho, vì khoa mới nắm được ai đang chờ bộ nào và ai đã nhận đủ.

Nón đồng phục có vành dùng cho bộ phận chế biến suất ăn trong bệnh viện

Câu Chữ Không Nên Đưa Vào Yêu Cầu Kỹ Thuật

Hồ sơ mua sắm đồng phục đôi khi chép lại câu quảng cáo từ tờ rơi của nhà cung cấp. Đó là cách nhanh nhất để tạo ra một yêu cầu không ai kiểm được và không ai chịu trách nhiệm.

Vải dệt dùng may đồng phục không có mức lọc hạt tính bằng micromet. Chỉ số đó thuộc về khẩu trang và phin lọc, được đo bằng phương pháp riêng trên thiết bị riêng. Đưa dòng này vào yêu cầu vải may áo là sai đối tượng ngay từ đầu.

Cụm xử lý kháng khuẩn cũng cần viết thận trọng. Tác dụng chính là hạn chế vi khuẩn gây mùi trên mặt vải, hiệu lực giảm dần theo số vòng giặt. Nếu vẫn muốn đưa vào, phải kèm phương pháp thử và số vòng giặt còn giữ được hiệu lực. Câu không kèm điều kiện thử thì nên bỏ.

Nếu vẫn quyết đưa vào thì có sẵn một số hiệu để bám: ISO 20743 quy định cách xác định hoạt tính kháng khuẩn của sản phẩm dệt. Phép thử này cấy một chủng vi khuẩn xác định lên mẫu vải, ủ trong điều kiện quy định rồi đếm lại số vi khuẩn sống sót, kết quả là mức giảm so với mẫu đối chứng chưa xử lý. Từ đó rút ra ba thứ phải ghi vào yêu cầu kỹ thuật: tên chủng vi khuẩn dùng để thử, mức giảm tối thiểu chấp nhận được, và số chu kỳ giặt mà mức giảm ấy vẫn còn giữ được. Con số ấy dừng lại ở một chỗ: hoạt tính kháng khuẩn của vải nói về vi khuẩn sống trên mặt vải, nó không làm bộ đồ trở thành lớp chắn lây nhiễm và không thay được quy trình giặt tiệt trùng của bệnh viện.

Quan trọng nhất: bộ đồng phục không phải phương tiện chắn lây nhiễm và không giữ được điều kiện vô khuẩn cho bất kỳ khu vực nào. Áo choàng phẫu thuật, bộ trùm toàn thân và các mặt hàng thuộc nhóm trang bị bảo hộ chuyên ngành y tế là loại hàng khác, có tiêu chí kỹ thuật và cách nghiệm thu riêng. Hai nhóm này nên nằm ở hai gói khác nhau ngay từ bước lập kế hoạch.

Khi hồ sơ viết đúng phạm vi của từng nhóm hàng, việc chấm thầu nhẹ hơn và việc nhận hàng cũng ít tranh luận. Đó là phần việc không tốn thêm tiền nhưng tiết kiệm rất nhiều thời gian cho cả hai bên.

Avatar of khanhlinh23

Về tác giả:

Là chuyên viên phát triển sản phẩm và kiểm định thiết bị bảo hộ lao động, tôi am hiểu sâu về các dòng sản phẩm như mũ bảo hộ, kính chống bụi, găng tay cách điện, giày chống trượt, mặt nạ phòng độc... Tôi thường xuyên cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (CE, ANSI, TCVN...) để đưa ra giải pháp bảo hộ tối ưu, đồng thời kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra trước khi cung cấp ra thị trường.