Phần lớn sự cố dính hoá chất lên da không xảy ra lúc người lao động đang thao tác, mà xảy ra ở hai đầu: lúc mặc chưa kín và lúc cởi ra. Bộ đồ tốt đến mấy mà sai quy trình thì vẫn hỏng việc. Năm bước dưới đây viết để dán ngay tại phòng thay đồ, đọc hết trong một phút.
Chuẩn Bị Trước Khi Chạm Vào Bộ Đồ
Việc đầu tiên là đọc lại phiếu an toàn của hoá chất sẽ làm việc hôm đó, chứ không phải lấy bộ đồ quen tay. Một bộ hợp với chất này có thể không hợp với chất khác, và xưởng đổi nguyên liệu thì bộ đồ cũng phải được xem lại. Người giao việc phải đọc tên hoá chất của ca hôm nay, ở dạng lỏng hay dạng hơi, và thời gian tiếp xúc dự kiến.
Tiếp theo là trải bộ đồ ra trên mặt phẳng sạch và nhìn một lượt. Cần xem bốn chỗ: đường may vai và đũng quần, chân khóa kéo, mép mũ trùm, và phần cổ tay cổ chân. Thấy rách, thủng, sớn màng hoặc dính vết hoá chất cũ thì bỏ, đừng tiếc. Bộ đồ loại dùng một lần đã mở bao thì không gấp lại cất vào kho dùng tiếp.
Việc cuối cùng trước khi mặc là chuẩn bị lớp bên trong. Áo lót thấm mồ hôi bằng vải cộc tay giúp người mặc chịu được lâu hơn, vì bộ đồ chống hoá chất gần như không thoát hơi. Tháo đồng hồ, nhẫn và vòng tay ra, vì cạnh kim loại là nguyên nhân làm rách bộ đồ từ bên trong.

Mặc Bộ Đồ Theo Đúng Thứ Tự Từ Dưới Lên
Thứ tự chuẩn là từ chân lên đầu, và từ lớp trong ra lớp ngoài. Ngồi xuống, xỏ hai chân vào ống quần trước khi đứng lên kéo lên ngang hông. Đứng mà xỏ chân là cách nhanh nhất để giẫm rách ống quần hoặc mất thăng bằng. Sau đó mới đến ủng, rồi lồng ống quần trùm ra ngoài cổ ủng chứ không nhét vào trong.
Chi tiết trùm ra ngoài này nghe nhỏ nhưng quyết định cả bộ đồ có tác dụng hay không. Nguyên tắc: chất lỏng chảy từ trên xuống, nên mọi mối nối phải xếp sao cho nước trượt ra ngoài chứ không chạy vào trong. Ỡng thì quần trùm ngoài ủng; găng thì tay áo trùm ngoài găng, trừ khi thao tác phải giơ tay cao quá đầu thì làm ngược lại.
Tiếp đến là phần thân và tay áo, rồi đến mặt nạ lọc hơi hóa chất nếu công việc có yêu cầu, sau đó mới trùm mũ của bộ đồ ra ngoài dây đeo mặt nạ. Đeo mặt nạ sau khi đã trùm mũ sẽ làm hở viền kín quanh mặt. Cuối cùng mới kéo khóa và dán nắp che khóa.
Việc này nên có người thứ hai hỗ trợ, ít nhất là ở bước kéo khóa lưng và dán băng che khoá ở sau gáy. Một người tự mặc bộ kín toàn thân thường bỏ sót đúng những chỗ họ không nhìn thấy.
Kiểm Kín Trước Khi Bước Vào Khu Vực
Bước này hay bị bỏ nhất vì ai cũng muốn vào làm cho nhanh. Cách kiểm đơn giản là đứng trước gương hoặc để người hỗ trợ đi một vòng quanh người, rà bốn điểm: cổ tay, cổ chân, quanh mặt, và dọc khóa kéo. Sau đó giơ tay lên, cúi người xuống và ngồi xổm một lần; chỗ nào hở ra khi cử động thì chính là chỗ sẽ hở trong lúc làm việc.
Người đeo mặt nạ còn phải thử áp mặt: bịt đường khí vào rồi hít nhẹ, mặt nạ phải hút sát vào mặt và giữ nguyên. Có râu quai nón hoặc tóc mai dài chạy qua viền kín thì phép thử này không đạt, và không có cách khắc phục nào khác ngoài cạo hoặc đổi sang loại thiết bị khác.
Cuối bước này, người mặc nên thử thao tác chính một lần trong lúc còn ở khu sạch: cầm được dụng cụ không, vặn được van không, với tới chỗ cần làm không. Phát hiện vướng ở đây thì còn đổi được; phát hiện khi đã vào trong thì người ta sẽ tự tháo găng ra cho dễ làm.

Giới Hạn Thời Gian Và Người Theo Dõi Ngoài Vùng
Một bộ đồ chống hoá chất không chặn được mãi mãi. Chất tiếp xúc với mặt ngoài sẽ thấm dần qua vật liệu, và khoảng thời gian từ lúc dính tới lúc thấm qua là con số do nhà sản xuất công bố cho từng cặp vật liệu và hoá chất. Đây là con số phải tra trong tài liệu của chính lô hàng, không suy đoán và không mượn số của lô khác.
Con số đó có tên riêng, và bảng tương thích của nhà sản xuất thực ra đứng trên ba đại lượng tách bạch. Thời gian xuyên phá tính bằng phút, đếm từ lúc hoá chất chạm mặt ngoài tới lúc phát hiện được nó ở mặt trong. Tốc độ thấm xuyên nói lượng chất đi qua mỗi đơn vị diện tích trong mỗi đơn vị thời gian sau khi đã xuyên phá. Mức suy giảm nói vật liệu bị trương, giòn hay tan ra tới đâu khi ngâm trong chính hoá chất đó. Cạnh ba đại lượng này còn một đường vào khác mà bảng không nói: chất lỏng lọt qua đường may và lỗ kim, tức là qua khe hở cơ học, không phải qua bề dày màng. Vì vậy bộ đồ dán kín đường may và bộ đồ chỉ may chỉ thường có thể cùng vật liệu mà khác hẳn nhau khi dùng thật.
Ngoài chuyện thấm, còn một giới hạn thứ hai là sức người. Bộ đồ kín không cho mồ hôi bay hơi, nên thân nhiệt tăng nhanh, nhất là khi làm giữa trưa hoặc gần nguồn nhiệt. Cần ấn định thời gian tối đa mỗi lượt vào vùng, có giờ nghỉ và có nước uống ở khu sạch. Người thấy chóng mặt, buồn nôn hoặc ngưng đổ mồ hôi phải ra ngay, không chờ hết lượt.
Luôn cần một người đứng ngoài vùng theo dõi. Người này không phải để giám sát năng suất mà để gọi trợ giúp và đưa người ra nếu có chuyện. Họ phải biết bị trí bồn rửa mắt khẩn cấp ở đâu, biết vị trí bộ vật liệu thấm xử lý tràn, và biết số cần gọi. Một người đứng ngoài mà không biết ba thứ đó thì chỉ là người đứng xem.
Bồn rửa mắt khẩn cấp là hạng mục có thông số nghiệm thu hẳn hoi, phần lớn lấy theo bộ ANSI/ISEA Z358.1 mà cơ quan an toàn lao động Canada diễn giải lại cho người vận hành. Nước phải ấm nhẹ, trong khoảng 16 tới 38 độ C: nóng hơn 38 độ thì hại chính con mắt và còn đẩy nhanh việc hoá chất thấm vào, lạnh dưới 16 độ thì người bị nạn bỏ dở trước khi đủ thời gian. Dòng nước phải duy trì được tối thiểu 15 phút, với lưu lượng ít nhất 1,5 lít mỗi phút cho vòi rửa mắt, 11,4 lít mỗi phút cho loại rửa cả mắt lẫn mặt và 75,7 lít mỗi phút cho vòi sen toàn thân. Vị trí đặt tính bằng thời gian đi tới, không quá 10 giây từ chỗ làm việc. Thiết bị phải được kích hoạt hằng tuần cho chảy bỏ phần nước tù trong ống, và kiểm đầy đủ mỗi năm một lần. Một điểm dễ làm sai: vòi sen toàn thân không dùng để rửa mắt, áp lực của nó quá mạnh cho nhãn cầu.
Cởi Bộ Đồ Là Bước Dễ Dính Bẩn Nhất
Lúc này mặt ngoài bộ đồ đã nhiễm bẩn, và mọi động tác đều phải tránh cho mặt ngoài chạm vào da hay vào quần áo bên trong. Việc đầu tiên là đứng đúng chỗ quy định để cởi, thường là khu chuyển tiếp giữa vùng bẩn và vùng sạch, có sẵn thùng chứa và có vòi nước. Cởi ở ngay chỗ vừa làm hoặc mang cả bộ đồ bẩn về phòng thay đồ chung đều là làm lan vùng nhiễm.
Nếu bộ đồ dính nhiều, phải xịt rửa mặt ngoài trước khi cởi. Sau đó cởi theo thứ tự ngược với lúc mặc: mở nắp che khóa, kéo khóa, hạ mũ ra sau, rồi luồn tay từ trong đẩy bộ đồ lộn mặt ngoài vào trong trong lúc cuộn xuống. Cuộn đến đâu thì phần bẩn bị bọc lại đến đó. Găng tay là thứ tháo sau cùng, vì tay trần chạm vào bề mặt bẩn là hỏng cả quy trình.
Bộ dùng một lần cho thẳng vào thùng chất thải có dán nhãn, không bỏ chung thùng rác sinh hoạt. Bộ dùng lại được thì rửa theo đúng hướng dẫn của hãng, phơi khô trong bóng râm và treo trên móc chứ không gấp, vì nếp gấp là chỗ màng bị rạn sớm nhất. Việc cuối cùng luôn là rửa tay và rửa mặt bằng xà phòng, kể cả khi người mặc chắc chắn mình không chạm vào gì.

Chọn Cỡ Và Chất Liệu Cho Đúng Việc Của Từng Vị Trí
Về cỡ, nguyên tắc khác hẳn quần áo thường: bộ đồ phải đủ rộng để người mặc giơ tay và ngồi xổm mà không kéo căng đường may, nhưng không được rộng tới mức vạt áo vướng vào thiết bị hoặc ống quần lê dưới nền. Đường may bị kéo căng là chỗ hỏng đầu tiên, và vạt áo lê nền là cách mang hoá chất đi khắp xưởng.
Về chất liệu, cách chọn không phải là tìm loại tốt nhất mà tìm loại đúng với dạng phơi nhiễm tại vị trí đó. Người chỉ gặp bụi bột và văng giọt nhỏ không cần bộ kín khí như người đứng xử lý tràn. Trang bị quá tay làm người mặc nóng, mệt và tự cởi ra giữa ca; trang bị thiếu thì không chặn được. Cả hai đều dẫn tới cùng một kết cục.
Dạng phơi nhiễm đã được châu Âu mã hoá thành một hệ ký hiệu ngắn in ngay trên nhãn bộ đồ, đánh số Type 1 tới Type 6. Type 1 là bộ kín khí dùng cùng nguồn khí thở. Type 2 cũng có nguồn khí cấp vào nhưng không kín khí. Type 3 kín trước tia chất lỏng phun thành dòng có áp. Type 4 kín trước sương phun mù. Type 5 chặn hạt rắn lơ lửng, tức bụi bột. Type 6 chỉ chịu được bắn toé nhẹ ở mức hạn chế. Con số càng lớn thì phạm vi càng hẹp, không phải càng tốt, và một bộ Type 5 dùng cho khu xử lý tràn dung dịch là chọn sai ngay từ ký hiệu. Khi lập bảng theo vị trí làm việc, ghi thẳng mã Type vào cột bộ đồ yêu cầu thì người đi mua không còn chỗ để hiểu khác.
Khi lập danh mục, nên viết theo vị trí làm việc: tên khu, hoá chất gặp, dạng phơi nhiễm, bộ đồ yêu cầu, phụ kiện đi kèm. Bảng này mất một buổi để lập nhưng dùng được nhiều năm, và là thứ bộ phận mua hàng cần để đặt đúng chứ không đặt theo đơn cũ.
Bảng đó chính là thứ mà quy định của OSHA gọi là đánh giá mối nguy. Mục 1910.132 buộc chủ sử dụng lao động khảo sát nơi làm việc để xác định mối nguy, chọn phương tiện bảo vệ tương ứng, thông báo lựa chọn đó cho từng người và chọn cỡ vừa với từng người. Kết quả khảo sát phải được xác nhận bằng văn bản, ghi rõ khu vực đã đánh giá, người xác nhận, ngày đánh giá, và ghi rõ đây là giấy chứng nhận đánh giá mối nguy. Một tờ như vậy tốn thêm mươi phút, nhưng là căn cứ duy nhất khi cần giải thích vì sao khu này dùng bộ kín còn khu kia thì không.

Những Món Phải Có Cùng Bộ Quần Áo Chống Hóa Chất
Bộ đồ chỉ lo phần thân. Bốn nhóm đi kèm thường phải có là tay, chân, mặt và đường thở. Phần tay dùng găng tay chịu hoá chất chọn theo đúng nhóm dung môi, không lấy găng cao su thông dụng thay thế. Phần chân dùng ủng cao su chống thấm có cổ cao, vì chất đổ xuống nền luôn chảy về phía chân người đứng.
Phần mặt cần kính che mặt khi có nguy cơ bắn toé, vì kính thường chỉ che hốc mắt còn cằm và cổ vẫn hở. Phần đường thở thì phụ thuộc vào việc chất đó có bay hơi hay không và nồng độ tại chỗ ở mức nào; đây là hạng mục phải hỏi người phụ trách an toàn chứ không tự quyết ở khâu mua hàng.
Ngoài bốn nhóm trên, khu vực làm việc cần có sẵn bồn rửa mắt khẩn cấp đặt trong tầm đi bộ vài giây, một bộ vật liệu thấm để xử lý tràn, và thùng chứa đồ nhiễm bẩn. Ba thứ này rẻ hơn nhiều so với một vụ việc, nhưng thường bị xếp sau cùng trong danh sách mua.


Là chuyên viên phát triển sản phẩm và kiểm định thiết bị bảo hộ lao động, tôi am hiểu sâu về các dòng sản phẩm như mũ bảo hộ, kính chống bụi, găng tay cách điện, giày chống trượt, mặt nạ phòng độc… Tôi thường xuyên cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (CE, ANSI, TCVN…) để đưa ra giải pháp bảo hộ tối ưu, đồng thời kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra trước khi cung cấp ra thị trường.


