Bàn tay là bộ phận chạm vào mối nguy nhiều nhất trong một ca làm việc, nhưng đơn đặt găng thường chỉ ghi tên loại chứ không ghi cấp bảo vệ và cỡ. Bài viết này đi vào ba việc: đọc ký hiệu trên nhãn để chọn đúng nhóm găng, đo cỡ cho vừa tay từng người, và xác định những vị trí máy móc mà đeo găng lại nguy hiểm hơn không đeo. Thông tin nền đầy đủ hơn nằm ở danh mục găng tay bảo hộ lao động.
Găng Tay Bảo Hộ Đứng Giữa Bàn Tay Và Mối Nguy
Găng tay bảo hộ là lớp chắn đặt giữa bàn tay và mối nguy của công việc: vết cắt, vật nóng, hóa chất, nước bẩn, mạt kim loại. Ở nhóm ngành thực phẩm và linh kiện điện tử, găng còn làm nhiệm vụ ngược lại: giữ cho bàn tay người thao tác không làm bẩn sản phẩm. Hai nhiệm vụ này dẫn tới hai nhóm găng rất khác nhau, và việc dùng nhầm nhóm là lỗi hay gặp khi mua theo tên gọi thay vì theo công việc.
Một đôi găng chỉ chống được đúng mối nguy mà nó được thiết kế để chống. Găng chống cắt không thay được găng chống hóa chất, găng chịu nhiệt không thay được găng chống cắt. Khi một công đoạn có hai mối nguy cùng lúc, ưu tiên đôi găng được công bố cho cả hai mối nguy. Khi thị trường không có mẫu như vậy, cách còn lại là lót hai lớp đúng theo khuyến cáo của nhà sản xuất, ví dụ lớp chống cắt bên trong lớp chống hóa chất; đổi lại phải thử lại thao tác thật vì lớp trong làm giảm cảm giác đầu ngón.

Nhận Mặt Từng Nhóm Găng Trên Giá Hàng
Dưới đây là các nhóm xuất hiện nhiều nhất trong đơn hàng của nhà máy, kèm ranh giới công việc của từng nhóm.
Găng Tay Cao Su
Găng cao su dùng cho công việc có nước, chất tẩy rửa và hóa chất loãng. Ưu điểm là độ đàn hồi cao, ôm tay và giữ được cảm giác cầm nắm. Cần lưu ý hai điểm: găng cao su thiên nhiên có protein latex nên có thể gây kích ứng ở một số người, và nhóm này không phải găng chống tĩnh điện. Với hóa chất cụ thể, phải tra bảng tương thích của nhà sản xuất cho đúng mã găng đó.
Găng Tay Da
Găng tay da chịu được mài mòn và tia lửa hàn, phần cổ dài che cổ tay trước xỉ hàn văng. Đây là nhóm dùng cho thợ hàn, thợ cắt kim loại và công việc bốc xếp vật nhám. Da thấm nước và lâu khô, nên không dùng cho công việc ướt và không dùng thay găng chống hóa chất.

Găng Tay Sợi Dệt Chống Tĩnh Điện
Đây là găng dệt kim có sợi carbon dẫn điện xen vào nền sợi tổng hợp, dùng trong khu vực lắp ráp linh kiện điện tử. Chỗ này phải tách bạch ngay từ đầu: đây không phải găng cách điện. Găng chống tĩnh điện có điện trở nằm ở khoảng trung gian, và việc của nó là thoát điện tích ra khỏi người thao tác, với điều kiện giày và sàn tại vị trí đó đã được nối đất. Găng cách điện thì ngược lại, có điện trở rất cao, nhiệm vụ là chặn dòng, phải được thử điện áp, có cấp và có phiếu kiểm định còn hạn cho từng đôi. Hai nhóm này ngược chức năng và không bao giờ thay thế cho nhau.

Găng Tay Chống Cắt
Găng chống cắt dệt từ sợi có độ bền kéo cao, thường phủ thêm một lớp nhựa mỏng ở lòng bàn tay để tăng độ bám khi cầm vật trơn. Khả năng chống cắt được ghi thành cấp trên nhãn; khi đặt hàng phải yêu cầu ghi đúng cấp thay vì chỉ viết “găng chống cắt” trong đơn. Găng chống cắt chịu được lưỡi trượt ngang nhưng không chống được mũi nhọn đâm thẳng.
Cái gọi là cấp trên nhãn thực ra là một chuỗi ký tự có cấu trúc. Trong hệ EN 388 dành cho rủi ro cơ học, bốn chữ số đầu lần lượt là mài mòn, cắt theo phép quay lưỡi tròn, xé rách và đâm thủng; sau đó mới tới một chữ cái chạy từ A tới F cho phép thử cắt bằng lưỡi thẳng của ISO 13997. Bắc Mỹ dùng cùng phép thử lưỡi thẳng đó nhưng chia thành chín bậc A1 tới A9 theo ANSI/ISEA 105. Hai thang này lấy từ một phép thử mà chia số bậc khác nhau, nên không có bảng quy đổi và không được đặt cạnh nhau để so. Trong đơn đặt hàng, viết đủ cả chuỗi ký tự lẫn tên hệ tiêu chuẩn, ví dụ ghi rõ bậc chữ cái theo EN 388 hay bậc A theo ANSI, thì hàng giao mới đối chiếu được.

Găng Tay Chịu Nhiệt
Găng chịu nhiệt dùng ở bếp công nghiệp, lò sấy và xưởng luyện kim. Điểm cần hiểu đúng là găng chịu nhiệt không được đo bằng một con số độ duy nhất; thông số có ý nghĩa là găng giữ được bao lâu ở mức nhiệt đó. Bất kỳ con số nhiệt độ nào không đi kèm thời gian và phương pháp thử đều không dùng được để so sánh hai đôi găng.
Hệ ký hiệu cho nhóm này là EN 407, gồm sáu chỉ tiêu xếp theo thứ tự cố định: bắt lửa, nhiệt tiếp xúc, nhiệt đối lưu, nhiệt bức xạ, giọt kim loại nóng chảy bắn vào và khối lượng lớn kim loại nóng chảy. Riêng chỉ tiêu nhiệt tiếp xúc chấm theo bốn mốc nhiệt độ 100, 250, 350 và 500 độ C, và mỗi bậc chỉ có nghĩa khi kèm khoảng thời gian mà mặt trong găng còn giữ được dưới ngưỡng gây bỏng. Ba chữ viết tắt hay bị gom làm một cần tách rạch ròi: EN 388 nói về rủi ro cơ học, EN 407 nói về nhiệt và lửa, còn EN 511 nói về lạnh và có ba chữ số riêng cho lạnh đối lưu, lạnh tiếp xúc và thấm nước. Đôi găng lò sấy và đôi găng kho lạnh vì thế nằm ở hai hệ ký hiệu khác nhau, không thay nhau được.
Các nhóm ở trên nhìn trên giá hàng thì khác nhau ở chất liệu, nhưng cách chọn đúng lại không bắt đầu từ chất liệu. Điều 1910.138 của OSHA về bảo vệ bàn tay đặt nghĩa vụ theo chiều ngược lại: doanh nghiệp phải đánh giá các mối nguy thực có tại từng vị trí trước — cắt, mài mòn, đâm thủng, hóa chất, nhiệt độ cực trị — rồi mới chọn găng theo đúng mối nguy đó, có tính cả thời gian tiếp xúc và mức khéo tay mà thao tác đòi hỏi. Dịch sang ngôn ngữ mua hàng: biên bản đánh giá mối nguy của từng chuyền phải có trước đơn đặt hàng, chứ không phải cấp phát theo mã găng mà chuyền đó vẫn quen dùng.
Cỡ Găng Sai Làm Hỏng Mọi Đặc Tính Còn Lại
Phần này quyết định hiệu quả thực tế của mọi lựa chọn phía trên. Nhà máy bỏ công chọn đúng cấp chống cắt, đúng vật liệu chống hóa chất, rồi mua một cỡ duy nhất cho cả xưởng cho gọn kho. Kết quả là phần lớn người dùng đeo găng không vừa, và mọi đặc tính đã trả tiền đều bị vô hiệu hóa.
Găng rộng tạo nếp nhăn ở lòng bàn tay và phần thừa ở đầu ngón. Người đeo mất cảm giác cầm nắm nên phải bóp mạnh hơn, tay nhanh mỏi, và vật dễ tuột. Phần vải thừa ở đầu ngón còn là thứ bị cuốn vào khe máy đầu tiên. Găng chật thì ngược lại: kéo căng lớp vật liệu, làm mỏng chỗ khớp ngón – đúng chỗ cần dày nhất – và gây tê tay sau vài giờ. Người đeo găng chật thường tự tháo ra giữa ca.
Cỡ găng dựa trên chu vi bàn tay đo vòng qua phần rộng nhất của lòng bàn tay, không tính ngón cái. Khi đặt cho cả tổ, hãy đo từng người bằng thước dây, ghi vào một bảng rồi quy đổi sang cỡ theo bảng của chính nhà sản xuất đó. Hai hãng khác nhau có thể ghi cùng một số cỡ cho hai kích thước khác nhau, nên không suy cỡ từ lô cũ sang lô mới khi đổi nhà cung cấp.
Dãy số cỡ quen thuộc chạy từ 6 tới 11, và con số ấy mang một nghĩa rất trực tiếp: nó chính là chu vi bàn tay tính bằng inch. Đo bằng thước dây vòng qua chỗ rộng nhất của lòng bàn tay, ngay dưới khớp ngón, bỏ ngón cái ra ngoài; được 8 inch thì cỡ 8. Bộ EN ISO 21420, tên cũ là EN 420, đặt yêu cầu chung cho mọi loại găng bảo hộ và buộc nhà sản xuất công bố hệ cỡ của mình theo cả chu vi lẫn chiều dài bàn tay, đo từ cổ tay tới đầu ngón giữa. Khi đặt cho cả tổ, ghi vào bảng hai cột số đo đó thay vì ghi S, M, L; và yêu cầu nhà cung cấp gửi kèm bảng quy đổi của chính hãng đang giao.
Phép thử tại chỗ nhanh nhất: đeo găng vào, nắm chặt bàn tay rồi mở ra năm lần. Nếu phải gắng sức để nắm thì găng chật. Tiếp theo, nhặt một con ốc nhỏ trên mặt bàn; nếu không nhặt được thì hoặc găng rộng, hoặc đôi găng đó quá dày so với công việc. Cả hai phép này nên làm bởi chính người sẽ đeo, không phải bởi người đi mua hàng.
Hai chi tiết nữa quyết định độ vừa tay mà bảng cỡ không nói tới. Thứ nhất là cách cắt ở kẽ ngón cái. Đôi găng cắt theo dáng bàn tay có miếng chêm ở kẽ ngón cái nên khi nắm lại không bị kéo căng ngang lòng bàn tay, còn đôi cắt phẳng từ hai mảnh thì luôn gồng ở đúng chỗ đó. Với công việc phải nắm giữ cả ca, khác biệt này lộ ra rất nhanh qua cảm giác mỏi.
Thứ hai là chiều dài cổ găng. Cổ ngắn để hở cổ tay khi người thợ với tay lên cao, mà đó lại đúng là vùng hay bị xỉ hàn hoặc dung dịch bắn vào. Cổ quá dài thì vướng vào tay áo và thường bị người dùng xắn ngược lên, làm mất luôn phần che. Cách chốt đơn giản là cho người thợ mặc đúng bộ đồ bảo hộ rồi mới thử găng, thay vì thử tay không trong phòng mẫu.
Có Những Máy Không Được Đeo Găng Khi Vận Hành
Điểm này ngược với phản xạ thông thường nên phải ghi thẳng vào nội quy. Với các máy có bộ phận quay hở – máy khoan bàn, máy tiện, máy mài trục, máy cưa đĩa, trục cuốn băng tải – đeo găng làm tăng nguy cơ thay vì giảm. Vải găng chỉ cần chạm vào chi tiết đang quay là bị cuốn, và cả bàn tay bị kéo theo trước khi người đứng máy kịp rút tay về. Bàn tay trần chạm vào chi tiết đang quay vẫn có thể bị thương rất nặng, nên đây không phải lý do để chủ quan; điều khác biệt là chiếc găng cho trục một chỗ để bám và kéo cả cánh tay vào, khiến thương tích thường nặng hơn hẳn.
Cách xử lý không phải là bỏ găng ở toàn xưởng, mà là ghi rõ vào phiếu công việc của từng vị trí: vị trí nào bắt buộc đeo, vị trí nào cấm đeo. Đi kèm là bố trí chỗ treo găng ngay cạnh máy để người thợ tháo ra được mà không phải bỏ găng vào túi áo rồi quên. Những thao tác tiếp liệu, kẹp phôi và dọn phoi quanh máy quay nên dùng dụng cụ cầm tay hoặc móc kéo thay cho bàn tay đeo găng.
Nhóm thứ hai là công việc leo thang và bám tay vịn. Găng dày làm giảm cảm giác tay và giảm lực bám trên bậc thang tròn, nhất là khi găng dính dầu. Ở những vị trí này nên chọn găng mỏng có lớp phủ tăng bám thay vì găng dày, và phải loại bỏ ngay đôi găng đã trơn bóng ở lòng bàn tay.
Những Lưu Ý Khi Sử Dụng Găng Tay Bảo Hộ
- Trước khi đeo, kiểm tra găng có thủng, rách đường may hoặc chỗ bạc mỏng hay không. Với găng cao su, cuộn cổ găng để nén khí bên trong rồi nghe tiếng xì. Phép thử khí này chỉ tìm được lỗ thủng, không thổi bằng miệng, và với găng cách điện nó không thay thế được lần thử điện môi định kỳ tại phòng thí nghiệm.
- Tuân thủ hướng dẫn bảo quản và mốc loại bỏ của nhà sản xuất, đặc biệt với găng chuyên dụng có hạn kiểm định.
- Găng đã dính hóa chất thì bỏ, không rửa lại để dùng tiếp, vì dung môi đã ngấm vào vật liệu không rửa ra được.
- Mỗi loại găng được làm cho một nhóm mối nguy. Dùng đúng việc quan trọng hơn dùng găng đắt tiền.
- Tháo găng bằng cách lộn mặt trong ra ngoài để không đưa chất bẩn lên da tay, sau đó rửa tay bằng xà phòng.
- Găng dùng một lần đi vào thùng chất thải theo phân loại, không bỏ lẫn với rác sinh hoạt của xưởng.
- Không dùng chung một đôi găng giữa nhiều người. Găng dùng chung vừa sai cỡ vừa là nguồn lây bệnh ngoài da.


