Áo Blouse Bác Sĩ – Phân Loại Về Kiểu Dáng Và Công Năng

Cùng một khoa có thể tồn tại bốn nhóm trang phục nhìn thoáng qua rất giống nhau, và người lập dự trù thường chỉ nhận ra khác biệt khi lô hàng đã về tới kho. Phân loại áo blouse cho đúng vì thế không dừng ở chuyện dài tay hay ngắn tay, mà là đọc được cấu tạo vật lý của chiếc áo rồi đối chiếu với thao tác thật của người mặc. Bài này đi theo trục hình dáng và cấu tạo, sau đó tách bốn họ sản phẩm hay bị gọi lẫn, cuối cùng là cách khảo sát cỡ trước khi chốt bảng size cho cả khoa.

Phân Loại Áo Blouse Bắt Đầu Từ Độ Dài Thân Và Kiểu Cổ

Độ dài thân là thứ nên chốt đầu tiên vì nó kéo theo toàn bộ phần còn lại của bản vẽ. Ba mốc thường gặp là thân dừng ngang hông, thân buông tới khoảng ba phần tư đùi và thân qua khỏi gối. Thân càng dài thì chiếc áo càng nghiêng về vai trò khoác ngoài, che được cả phần trang phục thường ngày bên trong. Thân ngắn nghiêng về vai trò áo làm việc, gọn cho người phải liên tục cúi và xoay. Một khoa đặt cả hai mốc trong cùng đợt là chuyện bình thường, miễn ghi rõ mốc nào dành cho vị trí nào.

Kiểu cổ đi liền theo đó. Cổ ve bẻ tạo dáng chỉnh chu lúc cài hết hàng cúc và không nhàu nếu bỏ ngỏ cúc trên cùng, hợp với khu tiếp xúc người bệnh và các buổi hội chẩn. Cổ đứng liền chân ôm sát, ít nếp gấp nên đỡ đọng bụi, thường được chọn cho khối kỹ thuật và nhà thuốc. Cổ tàu nằm giữa hai kiểu trên, mềm mắt hơn cổ đứng nhưng không cần lớp dựng dày như ve bẻ, nên giữ phom lâu mà công gia công nhẹ hơn.

Ghép hai yếu tố này lại sẽ ra ba cấu hình hay được đặt nhất: thân dài kèm cổ ve bẻ cho khối khám và điều trị, thân ngắn kèm cổ đứng cho khối kỹ thuật và cận lâm sàng, thân trung bình kèm cổ tàu cho khối hành chính và tiếp đón. Tách ba cấu hình thành ba mã riêng ngay trong đơn hàng sẽ tránh được cảnh cả khoa nhận về một kiểu áo rồi từng người tự đi sửa lại.

Áo blouse thân dài cổ ve bẻ dùng cho khối khám và điều trị

Số Túi Và Vị Trí Túi Quyết Định Áo Dùng Được Cho Việc Gì

Túi ngực trái là chỗ cắm bút, đèn soi và cài biển tên, nên miệng túi cần đủ chặt để vật nhỏ không tuột ra khi người mặc cúi xuống giường bệnh. Túi hông hai bên gánh phần nặng: ống nghe, điện thoại, sổ tay, đôi khi cả hộp găng. Chính vì gánh nặng mà hai đầu miệng túi hông là nơi rách sớm nhất, và cách xử lý rẻ nhất là yêu cầu chặn lại mũi ở hai đầu ngay trong bản quy cách thay vì chờ tới lúc phải vá.

Túi trong là chi tiết nên đặt thêm cho những vị trí phải di chuyển nhiều giữa các tầng. Túi trong nằm khuất dưới nẹp áo, giữ được vật giá trị khi người mặc chạy hoặc bê đồ, và không lộ hình khối ra ngoài như túi hông. Đổi lại, túi trong làm dày thêm một lớp vải ở thân trước, nên chỉ nên đặt cho phiên bản tay dài mặc trong phòng có điều hoà.

Cách chọn số túi nên xuất phát từ việc đếm thật những thứ người mặc phải mang theo trong một ca, chứ không mặc định lấy ba túi cho mọi vị trí. Khối tiếp đón hầu như chỉ cần túi ngực và một túi hông; khối đi buồng cần đủ ba túi và nên nới thêm chiều sâu túi hông. Buổi duyệt mẫu là lúc để thử: cho người mặc bỏ hết vật dụng thật vào túi rồi đi lại vài vòng, chỗ nào trĩu xuống hoặc cấn là chỗ phải sửa.

Nẹp Áo, Khuy Bấm Và Măng Sét Chọn Theo Thao Tác Của Khoa

Nẹp cài cúc là kiểu phổ biến nhất và cũng dễ thay thế nhất khi mất cúc, nhưng cởi chậm. Khuy bấm cho phép mở cả nẹp bằng một động tác kéo, thứ đáng giá ở những vị trí có nguy cơ dây bẩn lên thân áo và cần cởi ngay tại chỗ. Khoá kéo gọn và ít vướng nhất, song lại là chi tiết khó sửa nhất khi hỏng giữa lô, nên nếu chọn khoá thì phải yêu cầu nhà cung cấp giữ sẵn khoá cùng mã để thay.

Măng sét quyết định phần cổ tay có gọn hay không. Măng sét cài cúc cho phép xắn lên khi cần và trả về nếp cũ sau khi là, hợp với khu vực làm việc bàn giấy và hội chẩn. Măng sét bo chun ôm sát cổ tay, không tuột xuống khi giơ tay cao, nên hợp với người phải với lấy dụng cụ trên kệ. Chun bo là chi tiết lão hoá theo số lần giặt, vì vậy nên hỏi trước nhà cung cấp về khả năng thay bo riêng thay vì bỏ cả chiếc áo.

Đường xẻ ở thân sau quyết định áo có bị kéo lệch khi người mặc ngồi xuống ghế xoay hay không. Xẻ càng sâu thì càng thoải mái nhưng cũng càng cần một đường may chặn ở đỉnh xẻ, vì đó là điểm chịu lực khi hai vạt bị kéo về hai phía. Bản quy cách nên ghi rõ chiều sâu đường xẻ và kiểu may chặn, hai dòng chữ đó thường quyết định tuổi thọ chiếc áo nhiều hơn cả loại vải.

Bộ đồng phục y tế tay ngắn măng sét bo gọn ở cổ tay

Gọi Lẫn Bốn Họ Trang Phục Là Lỗi Đặt Hàng Tốn Kém Nhất

Áo blouse là áo khoác ngoài. Người mặc khoác nó chồng lên trang phục thường ngày, cởi ra khi rời khu chuyên môn, và chiếc áo làm nhiệm vụ nhận diện nhiều hơn nhiệm vụ che chắn. Đây là lý do blouse có thân dài, có nẹp cài phía trước và có túi: ba đặc điểm mà ba họ còn lại hoặc không có, hoặc cố tình bỏ đi. Nhầm blouse với ba họ kia là nhầm ngay ở mục đích sử dụng chứ không phải nhầm ở kiểu dáng.

Scrubs là bộ áo và quần mặc trong, thay tại chỗ ở phòng thay đồ chứ không mặc từ nhà tới. Bộ này cắt rộng, cổ chui đầu hoặc chữ V, không nẹp cúc, tối giản đường may để ít điểm bám bụi. Ở khu pha chế thuốc vô trùng và khu kiểm nghiệm, vai trò tương tự thuộc về bộ quần áo phòng sạch cho khu pha chế vô trùng, vốn còn thêm yêu cầu về khả năng sinh bụi của chính lớp vải.

Áo cách ly là loại dùng khi tiếp xúc ca có nguy cơ lây nhiễm. Áo cài phía sau lưng, tay có bo, được cởi bỏ ngay tại buồng bệnh theo trình tự đã tập, và phần lớn là hàng dùng một lần nằm chung nhóm áo cách ly dùng một lần cho khu nhiễm. Đặc điểm cài sau lưng không phải để đẹp: nó giữ cho toàn bộ mặt trước, phần dễ dây bẩn nhất, không bị chạm tay khi cởi.

Áo choàng phẫu thuật là họ khắt khe nhất. Áo được tiệt trùng, mở ngay trước khi vào bàn mổ, và có yêu cầu về khả năng cản dịch được phân cấp theo bộ tiêu chuẩn EN 13795 dành riêng cho trang phục phẫu thuật. Ba họ còn lại không có cấp cản dịch nào cả, nên trong hồ sơ mời thầu, phần yêu cầu kỹ thuật của áo choàng phẫu thuật phải tách hẳn thành mục riêng.

Trang phục khu phẫu thuật tách riêng khỏi nhóm áo blouse thường ngày

Áo Blouse Không Thay Được Áo Choàng Phẫu Thuật Khi Có Văng Bắn

Khác biệt kỹ thuật ở đây rất rõ: chiếc áo blouse thông thường không phải đồ cản dịch và cũng không được thử nghiệm như đồ cản dịch. Nó là vải dệt thoi mặc nhiều lần, thấm nước, và mục đích của nó dừng ở chỗ giữ cho quần áo bên trong không dây bẩn trong sinh hoạt thường quy của khu khám. Dùng blouse ở ca có nguy cơ văng bắn là hiểu sai chức năng, và không cách nào bù được bằng việc chọn vải dày hơn.

Ngược lại cũng đúng: mặc áo choàng phẫu thuật hoặc áo cách ly cho công việc hành chính thường ngày là lãng phí, vì đó là hàng dùng một lần và bị bỏ sau mỗi lần cởi. Cách bố trí hợp lý là để blouse làm trang phục nền cho cả ca, còn đồ dùng một lần được lấy ra đúng lúc có thao tác nguy cơ, dùng kèm mũ trùm đầu y tế dùng kèm bộ scrubs ở những khu vực có quy định che kín tóc.

Cách xử lý sau khi dùng cũng chia bốn họ ra rõ hơn mọi mô tả kiểu dáng. Blouse và scrubs đi vào vòng giặt của cơ sở; áo cách ly và áo choàng phẫu thuật dùng một lần đi vào chất thải theo phân loại của khoa. Đưa nhầm một chiếc áo dùng một lần vào máy giặt không chỉ hỏng chiếc áo mà còn làm bẩn cả mẻ giặt, nên nhãn phân loại trên áo là thứ đáng yêu cầu ngay từ khâu đặt hàng.

Khảo Sát Cỡ Cho Cả Khoa Trước Khi Chốt Bảng Size

Bốn số đo đủ để dựng bảng size cho một khoa: vòng ngực, rộng vai, dài tay tính từ chân cổ và dài thân sau. Đo trên người đang mặc đúng lớp áo sẽ mặc bên trong, vì blouse là áo khoác ngoài nên số đo lấy trên áo mỏng sẽ chật khi mặc chồng lên áo dày. Ghi thêm chiều cao của người được đo, đây là dữ kiện giúp phân biệt hai người cùng vòng ngực nhưng cần độ dài thân khác nhau.

Sau khi có số liệu, việc cần làm không phải là chọn đại vài cỡ mà là kiểm xem bảng size dự kiến phủ được bao nhiêu phần trong số người thật đã đo. Cách xác định tỉ lệ bao phủ của một bảng số đo cơ thể được mô tả trong ISO 8559-4 về tỉ lệ bao phủ của bảng số đo cơ thể, tiện để viện dẫn khi trao đổi với nhà cung cấp thay vì tranh luận cảm tính về việc bảng size rộng hay hẹp.

Về tổ chức, một buổi đo tập trung theo khoa nhanh hơn nhiều so với việc phát phiếu tự khai. Người tự khai thường nhớ số đo cũ hoặc khai theo cỡ áo đang mặc, mà cỡ áo mỗi hãng một khác. Nên bố trí hai người đo và một người ghi, đo theo đúng thứ tự bốn số đo cho mọi người để không bỏ sót, và giữ lại bảng số liệu thô cho các đợt đặt hàng sau.

Buổi khảo sát cỡ áo blouse cho nhân sự trong một khoa

Ca Không Lọt Bảng Size Và Tỉ Lệ Dự Phòng Nên Đặt Thêm

Khoa nào cũng có vài người nằm ngoài bảng size chuẩn: người rất cao cần thân và tay dài hơn, người vai rộng nhưng vòng ngực trung bình, nhân sự nữ đang mang thai cần bản rộng ở thân dưới, người thuận tay trái muốn đảo vị trí túi ngực. Danh sách này nên được lập ngay trong buổi đo và tách thành một phụ lục riêng của đơn hàng, vì chỉ cần vài chiếc may riêng là giải quyết xong.

Với các ca này, may riêng thường rẻ hơn cách chọn cỡ lớn hơn rồi mang đi sửa. Áo cỡ lớn sửa lại bị lệch vị trí túi, lệch điểm đặt logo và lệch đường vai, ba lỗi nhìn thấy rõ khi cả khoa đứng cạnh nhau. Nếu buộc phải sửa, chỉ nên sửa chiều dài tay và chiều dài thân, tuyệt đối không đụng vào đường vai vì phần đó kéo theo cả nách áo.

Phần dự phòng nên tính theo số nhân sự dự kiến tuyển thêm trong kỳ và tập trung vào các cỡ nằm giữa bảng, vì đó là những cỡ được dùng nhiều nhất và cũng là cỡ hết trước. Khi đã chốt xong cấu hình kiểu dáng và bảng size, phần quy cách chi tiết cùng trình tự làm việc với xưởng may được trình bày trong danh mục đồng phục bệnh viện.

Avatar of khanhlinh23

Về tác giả:

Là chuyên viên phát triển sản phẩm và kiểm định thiết bị bảo hộ lao động, tôi am hiểu sâu về các dòng sản phẩm như mũ bảo hộ, kính chống bụi, găng tay cách điện, giày chống trượt, mặt nạ phòng độc... Tôi thường xuyên cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (CE, ANSI, TCVN...) để đưa ra giải pháp bảo hộ tối ưu, đồng thời kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra trước khi cung cấp ra thị trường.