Hai báo giá áo thun đồng phục có thể chênh nhau đáng kể chỉ vì một dòng chữ: vải CVC hay vải TC. Nhiều người đặt hàng nghe qua thấy cả hai đều là “cotton pha” nên chọn loại rẻ hơn, rồi mùa nắng đầu tiên mới biết mình chọn sai. Phân biệt vải CVC và TC thực ra chỉ xoay quanh tỉ lệ sợi bông, nhưng hệ quả thì trải dài từ cảm giác mặc tới tuổi thọ chiếc áo.
CVC Và TC Khác Nhau Ở Tỉ Lệ Sợi Bông
Cả hai đều là vải pha giữa sợi bông tự nhiên và sợi polyester, khác nhau ở chỗ sợi nào chiếm phần lớn. Vải CVC nghiêng về bông, thường được ghi là sáu mươi lăm phần bông và ba mươi lăm phần polyester. Vải TC đảo ngược tỉ lệ đó, phần polyester chiếm ưu thế. Đây là quy ước phổ biến trên thị trường Việt Nam, không phải định nghĩa bắt buộc.
Trên phiếu vải, hai quy ước đó được viết thành con số: 65/35 cho loại nghiêng về bông và 35/65 cho loại nghiêng về polyester, thứ tự luôn là bông trước rồi polyester sau. Con số trên phiếu mới là căn cứ, và nó cần khớp với con số ghi trong hợp đồng lẫn con số in trên nhãn áo thành phẩm. Ba chỗ đó lệch nhau là dấu hiệu lô vải đã đổi nguồn giữa chừng.
Điều đó có nghĩa là tên gọi không phải cam kết. Một số mã vải bán dưới tên TC còn pha thêm sợi co giãn, một số mã gọi là CVC nhưng tỉ lệ bông thấp hơn con số quen thuộc. Vì vậy câu hỏi đúng khi đi đặt hàng không phải “CVC hay TC” mà là “thành phần sợi cụ thể ghi trên phiếu vải là gì”.

Cầm Trên Tay Có Nhận Ra Được Không
Có, nhưng chỉ khi có hai mẩu đặt cạnh nhau. Mẩu nhiều bông hơn sờ mát và hơi xuốp, mặt vải ít bóng. Mẩu nhiều polyester hơn trơn tay, hơi trơn bóng dưới ánh đèn và nhẹ hơn khi cầm cùng một diện tích. Để một mình thì rất khó kết luận, nên luôn xin ít nhất hai mẩu để so.
Một phép thử khác là nhỏ vài giọt nước lên mặt vải. Mẩu nhiều bông hút nước lan ra khá nhanh; mẩu nhiều polyester giữ giọt nước đọng lại trên bề mặt lâu hơn rồi mới thấm. Phép thử này không cho con số chính xác nhưng đủ để phát hiện khi nhà cung cấp giao lô khác với mẩu đã duyệt.
Nhân Viên Làm Ngoài Trời Nên Nhận Loại Nào
Nơi nào người mặc đổ mồ hôi nhiều và liên tục, phần bông cao hơn là lợi thế: sợi bông hút ẩm tốt nên áo không dính sát da bằng. Đổi lại, áo lâu khô hơn và nếu mặc liền hai ca thì cảm giác ẩm kéo dài. Với khối văn phòng ngồi điều hoà, tỉ lệ polyester cao hơn lại tiện vì áo ít nhăn và giữ dáng suốt buổi.
Một điều hay bị hiểu sai: polyester không chống cháy. Sợi này chảy và dính vào da khi gặp nguồn nhiệt cao. Ở vị trí có tia lửa, hồ quang hay kim loại nóng chảy, không dùng áo thun thường dù là CVC hay TC, mà phải chuyển sang nhóm đồng phục bảo hộ chuyên dụng đã thử nghiệm kèm chứng chỉ tương ứng.

Giá Hai Loại Chênh Nhau Vì Điều Gì
Chênh lệch đến từ nguyên liệu: sợi bông là nông sản, giá biến động theo mùa vụ và luôn cao hơn sợi tổng hợp sản xuất công nghiệp. Vải càng nhiều bông thì càng đắt, và khoảng cách đó nhân lên theo số lượng áo. Với đơn vài trăm chiếc, chênh lệch giữa hai loại đủ để bù cho một đợt áo dự phòng.
Nhưng đừng chỉ tính giá mua. Hãy ước lượng số lần giặt mỗi chiếc áo phải chịu trước khi thay, rồi chia giá mua cho con số đó. Áo mặc hằng ngày trong ngành dịch vụ hao rất nhanh, nên chọn vải bền hơn thường rẻ hơn tính theo năm, còn áo phát cho sự kiện mặc vài lần thì không cần đầu tư tới mức đó.
Xù Lông, Co Rút Và Phai Màu Sau Vài Tháng
Mỗi loại hỏng theo một kiểu. Vải nhiều bông co nhẹ sau vài lần giặt đầu và nhăn nhiều hơn khi phơi. Vải nhiều polyester giữ số đo tốt nhưng dễ nổi hạt xù ở nách, hai bên sườn và chỗ đeo balo. Đây là lý do áo đồng phục nhìn cũ trước khi thực sự rách.
Về màu, phần bông bắt thuốc nhuộm khác phần polyester, nên trên cùng một tấm vải pha, hai nhóm sợi có thể phai không đều sau nhiều chu kỳ giặt và tạo ra sắc độ bạc hơi khác lúc mới. Khi mua số lượng lớn cho trường học hay cơ sở y tế, nên hỏi thêm chứng nhận OEKO-TEX STANDARD 100 về hàm lượng hoá chất trong hàng dệt.
Cả hai hiện tượng vừa nói đều có phép đo riêng. Mức nổi hạt xù chấm theo ISO 12945-2: chà đủ số vòng quy định trên máy Martindale cải tiến rồi cho điểm trong khoảng 5 xuống 1, trong đó 5 nghĩa là bề mặt giữ nguyên. Mức phai chấm theo ISO 105-C06, tách thành chỉ số đổi màu và chỉ số dây màu, cùng theo thang 1 tới 5; nhiệt độ và hoá chất của phép thử thay đổi theo quy trình được chọn nên phải đọc kèm mã quy trình. Với vải pha, chỉ số dây màu là chỗ đáng xem nhất, vì một kết quả trung bình không phản ánh được vệt bạc loang do hai nhóm sợi phai lệch nhau.

Đọc Phiếu Vải Thay Vì Tin Tên Gọi
Phiếu vải của nhà dệt thường ghi ba thông tin đáng quan tâm: thành phần sợi theo phần trăm, định lượng tính trên một mét vuông, và kiểu dệt. Kiểu dệt ảnh hưởng tới độ co giãn và độ thoáng không kém gì tỉ lệ sợi, nhưng gần như không ai hỏi tới khi đặt áo đồng phục.
Định lượng và độ thoáng là hai đại lượng nên đòi cùng lúc. Định lượng ghi bằng gam trên mét vuông cho biết áo dày tới đâu. Độ thoáng đo theo ISO 9237, trả về lưu lượng không khí đi qua một đơn vị diện tích vải ở mức chênh áp quy định, tính bằng lít trên mét vuông mỗi giây; phép này áp cho hầu hết loại vải nên dùng được cả cho hàng dệt kim làm áo thun. Hai chiếc áo cùng định lượng mà khác kiểu dệt sẽ cho hai kết quả thấm khí khác nhau, và đó chính là phần mà tên gọi CVC hay TC không nói tới.
Khi đặt áo thun đồng phục in logo cho cả công ty, hãy yêu cầu bản chụp phiếu vải kèm theo báo giá. Nếu nhà cung cấp chỉ trả lời bằng một tên gọi chung chung, khả năng cao họ cũng mua lại vải mà không nắm rõ nguồn, và lô sau có thể khác lô trước.
Ghi Gì Vào Hợp Đồng Để Nhận Đúng Loại Vải
Thay cho câu “vải CVC”, hợp đồng nên ghi tên mã vải cụ thể, thành phần sợi theo phần trăm, định lượng, mã màu và số lô nhuộm. Kèm theo là một mẩu vải được hai bên ký nháp, lưu mỗi bên một nửa. Khi giao hàng, so mẩu lưu với áo thực tế dưới ánh sáng tự nhiên, không so dưới đèn kho.
Nếu đơn hàng chia làm nhiều đợt, ghi rõ yêu cầu giữ nguyên lô nhuộm hoặc báo trước khi đổi lô. Với nhóm áo mặc cho hoạt động phong trào, có thể xem thêm dải trang phục thể thao nội bộ để đồng bộ màu giữa áo thun hằng ngày và đồ mặc khi thi đấu nội bộ.
Tóm lại phần trên, hãy coi CVC và TC là hai điểm trên một dải liên tục chứ không phải hai sản phẩm tách biệt. Xác định môi trường người mặc trước, rồi mới chọn điểm nghiêng về bông hay nghiêng về polyester. Xin hai mẩu để so trực tiếp. Và ghi con số vào hợp đồng thay vì ghi tên gọi.
Cùng Một Tỉ Lệ Sợi Nhưng Hai Kiểu Dệt Cho Hai Chiếc Áo Khác Nhau
Đây là phần hầu như không ai hỏi khi đặt áo thun, dù nó ảnh hưởng tới cảm giác mặc ngang với tỉ lệ sợi. Cùng một mã vải pha, kiểu dệt kim đơn cho ra mặt vải mỏng và mát, còn kiểu dệt có mặt sau nổi hạt cho ra tấm vải dày hơn, đứng dáng hơn và ít lộ đường cong cơ thể hơn.
Hệ quả thực tế rất rõ. Áo dệt mỏng hợp với khí hậu nóng và với người mặc thường xuyên ra ngoài, nhưng lộ rõ áo lót bên trong nếu chọn màu sáng. Áo dệt dày che tốt hơn, giữ phom lâu hơn qua nhiều lần giặt, nhưng nặng và bí hơn. Với đơn có cả nam lẫn nữ, nhiều nơi chọn hướng dày vừa phải để không bên nào phải chịu đựng.
Kiểu dệt cũng quyết định chất lượng hình in. Bề mặt càng phẳng và càng mịn thì mực bám đều, chi tiết nhỏ trong logo giữ được nét. Bề mặt có hạt nổi khiến đường viền mảnh bị răng cưa. Nếu logo của doanh nghiệp có chữ nhỏ hoặc nét mảnh, hãy hỏi thẳng nhà cung cấp xem mã vải đó có in được ở kích thước bạn muốn hay không.
Cách kiểm nhanh khi cầm hai mẫu: kéo nhẹ theo chiều ngang rồi thả ra. Tấm dệt tốt trở lại gần như nguyên trạng; tấm dệt lỏng để lại vệt giãn nhìn thấy được. Làm phép này trên cùng một điểm của hai mẫu sẽ cho kết quả so sánh đáng tin hơn mọi lời mô tả trong báo giá.
Nếu đơn hàng chia làm nhiều đợt trong năm, nên chốt cả nhà dệt chứ không chỉ chốt tên loại vải. CVC của hai nhà dệt khác nhau có thể cùng ghi tỉ lệ sợi như nhau mà cầm lên vẫn khác: khác ở độ săn của sợi, khác ở cách xử lý hoàn tất sau khi dệt. Ghi tên nhà dệt và mã cây vải vào phụ lục hợp đồng là cách rẻ nhất để đợt sau nhận được đúng thứ đã duyệt.
Với những đơn phải đặt lại nhiều lần, hãy giữ một mảnh vải mẫu chừng bàn tay, kẹp cùng phiếu ghi ngày nhận và tên đợt. Mảnh vải đó là căn cứ duy nhất có giá trị khi hai bên tranh luận về chuyện đợt mới mỏng hơn hay thô hơn đợt cũ. Người giữ mảnh vải mẫu nên là bộ phận hành chính chứ không phải người trực tiếp đi đặt hàng, để hồ sơ còn nguyên khi nhân sự thay đổi.

Là chuyên viên phát triển sản phẩm và kiểm định thiết bị bảo hộ lao động, tôi am hiểu sâu về các dòng sản phẩm như mũ bảo hộ, kính chống bụi, găng tay cách điện, giày chống trượt, mặt nạ phòng độc… Tôi thường xuyên cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (CE, ANSI, TCVN…) để đưa ra giải pháp bảo hộ tối ưu, đồng thời kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra trước khi cung cấp ra thị trường.


