Trong danh sách cấp phát trang bị bảo hộ, ba thứ rất khác nhau thường bị gộp chung một dòng: kính bảo hộ dạng gọng, kính kín ôm sát hốc mắt và mặt nạ che mặt. Chúng khác nhau ở chỗ chừa lại đường hở nào, mà đường hở đó lại nằm đúng trên hướng mối nguy đi tới. Câu hỏi chọn kính hay mặt nạ che mặt vì thế không có đáp án chung cho cả xưởng. Bài này đi vào ranh giới giữa ba nhóm trang bị bảo vệ mắt và mặt, và vì sao nhóm thứ ba không bao giờ được dùng một mình.
Ba Nhóm Thiết Bị Bảo Hộ Mắt Mặt Khác Nhau Ở Đường Hở Chứ Không Ở Độ Dày Tròng
Kính bảo hộ dạng gọng che phần trước hốc mắt và, nếu có tấm che bên, chặn thêm hướng ngang. Phần trên lông mày, phần dưới gò má và khe giữa tròng với sống mũi vẫn hở. Thiết kế này đủ dùng với hạt rắn bay theo quỹ đạo gần thẳng từ phía trước, chẳng hạn phoi tiện hay mạt mài. Đó cũng là lý do gọng kính ôm sát khuôn mặt phổ biến nhất ở xưởng cơ khí.
Kính kín thay các đường hở đó bằng một viền mềm ép liên tục quanh hốc mắt, giữ bằng dây đeo sau gáy thay vì hai càng tì lên tai. Tuỳ kiểu thông hơi, viền này chặn được giọt lỏng bắn từ mọi hướng, hoặc chặn cả bụi mịn và hơi khí. Mặt nạ che mặt đi theo hướng ngược lại: nó phủ từ trán xuống quá cằm nhưng để trống hai bên má và toàn bộ khe dưới cằm, đồng thời cách da mặt vài centimet.

Vật Bay Ngang Và Hoá Chất Bắn Đòi Hỏi Hai Kiểu Che Chắn Hoàn Toàn Khác Nhau
Hạt rắn văng ra từ máy mài đi theo đường gần thẳng, nên một tấm tròng chắn trước mắt là đủ. Chất lỏng thì không như vậy. Giọt hoá chất bắn ra sẽ dội lại từ gò má, chảy dọc trán xuống lông mày rồi men theo mép tròng vào trong, hoặc bốc lên từ bồn nhúng theo hướng từ dưới lên. Mọi khe hở của kính dạng gọng đều nằm đúng trên các đường đi đó, nên kính hở hai bên gần như vô dụng với hoá chất lỏng.
| Hướng và dạng mối nguy | Nhóm thiết bị phù hợp |
|---|---|
| Hạt rắn bay ngang, phoi mài cắt khoan | Kính dạng gọng có phần che bên |
| Vật rơi hoặc mảnh bắn từ trên xuống | Kính kín, thêm mặt nạ che mặt khi mảnh lớn |
| Giọt và tia hoá chất lỏng | Kính kín viền liền, kèm mặt nạ khi bắn diện rộng |
| Bụi mịn, hơi và khí | Kính kín thông hơi gián tiếp hoặc không thông hơi |
| Kim loại nóng chảy, xỉ hàn | Mặt nạ che mặt chịu nhiệt đeo cùng kính bên trong |
| Tia cực tím, ánh sáng hồ quang | Tròng lọc đúng mã số, không dùng tròng sẫm màu thường |
Kính kín cũng chia theo kiểu thông hơi. Loại có lỗ thông hơi trực tiếp thoáng nhất nhưng chỉ hợp với hạt rắn, vì lỗ hở thẳng ra ngoài cho giọt lỏng lọt vào. Loại thông hơi gián tiếp có nắp che chắn đường khí, dùng được khi có hoá chất bắn. Loại không thông hơi kín hoàn toàn, dành cho hơi khí và bụi mịn, đổi lại dễ đọng sương nhất trong ba kiểu.
Khi mối nguy là kim loại nóng chảy hoặc hoá chất bắn thành tia, vùng cần che không dừng ở hốc mắt mà lan xuống cổ và ngực. Phần che thân bằng quần áo chống hoá chất và chịu nhiệt phải được tính cùng lúc với thiết bị che mặt. Chọn riêng lẻ từng món theo từng đợt mua thường để lại một dải hở chạy từ cằm xuống xương đòn.

Ký Hiệu F, B Và A Của EN 166 Nói Về Vận Tốc Va Đập Thay Vì Độ Bền Chung
EN 166 kiểm tra va đập bằng cách bắn một viên bi thép đường kính 6 mm, khối lượng 0,86 g vào thiết bị ở các vận tốc khác nhau. Ký hiệu F ứng với 45 m/s, B ứng với 120 m/s và A ứng với 190 m/s; ký hiệu S chỉ mức độ bền tăng cường ở năng lượng thấp hơn. Các mức này chỉ nói về vận tốc hạt mà thiết bị chặn được, không nói gì về khả năng chống hoá chất hay chống bụi.
Ba mức đó không mở cho mọi kiểu dáng. Mức F áp dụng cho cả ba nhóm, mức B chỉ dành cho kính kín và mặt nạ che mặt, còn mức A chỉ đạt được ở mặt nạ che mặt. Nghĩa là khi hạt bay ở vận tốc cao, kính dạng gọng không có đường nào đạt tới mức đó. Phải đổi sang nhóm thiết bị khác chứ không phải đổi sang mẫu kính gọng đắt tiền hơn.
Đi kèm còn vài ký hiệu tuỳ chọn đáng đọc. Chữ T đứng ngay sau F, B hoặc A, thành FT, BT, AT, cho biết mức va đập ấy vẫn giữ được ở nhiệt độ khắc nghiệt, khoảng âm 5 đến 55 độ C. Chữ K chỉ lớp chống trầy xước bề mặt, chữ N chỉ lớp chống đọng sương. Bảng ký hiệu đầy đủ được uvex tổng hợp theo EN 166.
Ký Hiệu 3 Và 5 Tách Giọt Lỏng Khỏi Bụi Mịn, Còn 9 Dành Riêng Cho Kim Loại Nóng Chảy
Bên cạnh cấp va đập, EN 166 còn nhóm ký hiệu vùng sử dụng in trên thân thiết bị. Đây mới là phần trả lời câu hỏi thiết bị chặn được thứ gì, và là phần phải đối chiếu khi nhận hàng về so với yêu cầu công việc.
- 3 — giọt và tia chất lỏng
- 4 — hạt bụi thô
- 5 — khí, hơi, sương và bụi mịn
- 9 — kim loại nóng chảy và chất rắn nóng
Hệ ANSI/ISEA Z87.1 của Mỹ ghi khác nhưng cùng logic: dấu Z87+ cho mức va đập cao, D3 cho giọt bắn, D4 cho bụi thô, D5 cho bụi mịn. Một thiết bị mang Z87+ không mặc nhiên chống được hoá chất bắn; không thấy D3 in trên thân kính thì đừng suy diễn ra. Đây là chỗ dễ nhầm nhất khi mua hàng, vì bao bì thường in đậm mỗi dấu Z87+ và bỏ nhỏ phần còn lại.
Tròng lọc tia có hệ mã riêng, ghi mã nhóm trước rồi tới số cấp, ngăn cách bằng dấu gạch nối. Lọc tia cực tím theo EN 170 mang mã 2C- hoặc 3- kèm số cấp từ 1.2 đến 5. Lọc chống chói mặt trời theo EN 172 mang mã 5- hoặc 6- kèm số cấp từ 1.1 đến 4.1. Kính lọc hàn theo EN 169 dùng số cấp từ 1.2 đến 16 và không có tiền tố. Tròng sẫm màu không mã số chỉ làm tối tầm nhìn chứ không lọc được hồ quang.

Mặt Nạ Che Mặt Chắn Cả Khuôn Mặt Và Vẫn Cần Kính Hoặc Kính Kín Bên Trong
Hướng dẫn chọn trang bị bảo vệ cá nhân của OSHA nêu rõ mặt nạ che mặt chỉ được đeo phủ bên ngoài lớp bảo vệ mắt chính, tức kính bảo hộ hoặc kính kín. Lý do nằm ở hình học: tấm chắn cách mặt vài centimet, nên mảnh vụn bắn từ dưới lên hoặc dội ngược từ bàn máy đi lọt qua khe dưới cằm rồi vào hốc mắt từ mặt trong của tấm chắn.
Thói quen vận hành cũng góp phần. Người thợ hay lật tấm chắn lên trán để nhìn rõ đường cắt hoặc đọc thông số, và trong vài giây đó mắt hoàn toàn trần. Nếu bên trong đã có kính, khoảnh khắc lật lên không còn là khoảnh khắc trống. Mặt nạ che mặt vì vậy được xếp vào lớp thứ cấp: nó nhận phần da mặt, quai hàm và cổ, còn hốc mắt vẫn do lớp bên trong đảm nhiệm từ đầu đến cuối ca.
Công việc hàn là ví dụ rõ nhất. Mặt nạ hàn lọc được ánh sáng hồ quang trong lúc mồi và kéo đường hàn, nhưng khi thợ lật kính lên để gõ xỉ hoặc mài chân mối hàn thì mảnh xỉ nóng văng đúng vào mắt trần. Lớp kính bảo hộ đeo sẵn bên dưới mặt nạ chính là thứ nhận cú văng đó, và đây là tình huống chấn thương mắt quen thuộc ở xưởng kết cấu thép.

Kính Cận Cá Nhân Và Kính Bảo Hộ Có Độ Đi Qua Hai Bài Kiểm Tra Khác Nhau
Kính thuốc thông thường không qua bài kiểm tra va đập nào của EN 166 hay Z87.1. Gọng nhỏ, tròng có thể vỡ thành mảnh sắc ngay trước mắt, và không có phần che bên. Để người lao động dùng kính cận cá nhân thay kính bảo hộ là bỏ trống toàn bộ lớp bảo vệ, kể cả khi tròng làm bằng vật liệu nhựa và trông có vẻ dẻo.
Có hai đường xử lý. Kính đeo chồng, tên tiếng Anh là over-the-glass, có tròng và gọng rộng để trùm ra ngoài kính thuốc; ưu điểm là dùng chung được cho nhiều người, nhược điểm là dày, dễ tì vào gọng kính thuốc và thu hẹp tầm nhìn ngoại vi. Kính bảo hộ có độ thì mài tròng theo đơn thuốc trên phôi và gọng đạt chuẩn, gọn hơn hẳn nhưng gắn với một người và mất thời gian đặt. Kính áp tròng không phải lớp bảo vệ và không thay được cả hai.
Đọng Sương Hay Hở Đệm Tai: Hai Lý Do Khiến Công Nhân Tự Tháo Kính Khỏi Mặt
Kính kín bị đọng sương vì hơi ẩm từ da và hơi thở bị nhốt trong khoang kín, gặp bề mặt tròng lạnh hơn. Phản xạ thường thấy của người đeo là nới dây hoặc kéo kính xuống mũi cho thoáng, tức là tự phá bỏ lớp viền kín vừa chọn. Cách xử lý đúng là chọn tròng có lớp chống đọng sương và kiểu thông hơi phù hợp với mối nguy, đồng thời lau bằng khăn mềm vì vải thô bóc mất lớp phủ.
Trường hợp thứ hai xảy ra khi phải đeo kính cùng ốp tai. Hai càng kính chèn giữa đệm tai và da đầu tạo thành khe hở nhỏ, và các phép đo thực nghiệm ghi nhận mức chống ồn giảm vài decibel tuỳ độ dày càng. Nếu vị trí làm việc bắt buộc dùng ốp tai chống ồn, nên chọn càng kính dẹt và mỏng, hoặc chuyển sang kiểu có dây đeo sau gáy, hoặc thay ốp tai bằng nút tai.
- Xác định hướng và thể của mối nguy trước, rồi mới chọn nhóm thiết bị, thay vì theo thói quen của tổ
- Đọc ký hiệu in trên cả gọng lẫn tròng, thiếu một trong hai vị trí là dấu hiệu cần kiểm tra lại lô hàng
- Đối chiếu ký hiệu vùng sử dụng với hoá chất và loại bụi thực tế tại từng vị trí, không lấy chung cho cả xưởng
- Ghi thẳng vào quy trình rằng mặt nạ che mặt luôn đi kèm một lớp kính bên trong
- Thay tròng khi bị trầy, vì vết trầy vừa che tầm nhìn vừa làm yếu điểm chịu va đập
Ranh giới giữa ba nhóm không nằm ở giá hay thương hiệu mà ở hai câu hỏi rất cụ thể: mối nguy đi tới từ hướng nào, và nó ở thể rắn, thể lỏng hay là bức xạ. Trả lời xong hai câu đó mới đến bước đọc ký hiệu in trên thân thiết bị để kiểm tra hàng nhận về có đúng cấp hay không.


