Hai đơn hàng cùng đặt một kiểu ba lô, cùng loại vải, cùng màu, nhưng lô này dùng được ba năm còn lô kia bật chỉ quai sau sáu tháng. Khác biệt gần như luôn nằm ở những thứ không ai ghi vào đơn: cỡ khoá kéo, cách may điểm nối quai, loại chỉ và số mũi trên mỗi đoạn.
Bài này đi theo trục quy trình: từ bản vẽ đo, rập và mẫu đối, cách đọc cỡ khoá kéo và phần cứng, cho tới bộ phép thử khi nhận hàng. Những chuyện về chọn chất liệu hay dung tích đã có bài riêng, ở đây chỉ bàn phần làm việc với xưởng.
Đặt May Ba Lô Túi Xách Theo Yêu Cầu Bắt Đầu Từ Bản Vẽ Đo
Ảnh chụp một chiếc ba lô trên mạng không phải là yêu cầu kỹ thuật. Xưởng cần bản vẽ ba mặt gồm mặt trước, mặt sau và mặt hông, kèm một bảng điểm đo ghi con số cụ thể. Thiếu bảng này, mỗi người cắt rập sẽ hiểu một kiểu và chiếc mẫu trả về luôn lệch với thứ trong đầu người đặt.
Bảng điểm đo tối thiểu nên có chiều cao thân, chiều rộng đáy, độ sâu thân, chiều dài quai đo từ điểm nối trên tới điểm nối dưới, kích thước lòng ngăn chính, và vị trí túi phụ tính từ mép trên xuống. Mỗi dòng nên kèm dung sai cho phép, vì vải có co giãn và đòi số tuyệt đối là đòi thứ không xưởng nào làm được.
Phần phải ghi kỹ nhất là chiều dài quai và khoảng cách giữa hai điểm nối quai trên lưng. Hai con số này quyết định ba lô ôm lưng hay bị văng ra sau. Đặt cho học sinh cấp một và đặt cho nhân viên trưởng thành là hai bộ số khác hẳn, dù nhìn bản vẽ thì hai chiếc giống nhau.
Nếu đặt kèm nhiều món cho cùng một bộ nhận diện, nên gửi luôn danh sách toàn bộ món để xưởng biết phải giữ thống nhất màu chỉ và màu viền. Ba lô đặt rời rạc với mũ nón đồng phục hay áo thun đồng phục rất dễ lệch tông khi đặt cạnh nhau.

Rập Mẫu Và Mẫu Đối Là Hai Thứ Phải Giữ
Rập là bộ khuôn cắt cho từng chi tiết, làm từ bản vẽ đo. Mẫu đối là chiếc thành phẩm đã được hai bên ký xác nhận, giữ lại làm chuẩn để đối chiếu khi nghiệm thu. Hai thứ này phục vụ hai mục đích khác nhau và không thể thay cho nhau.
Cách làm gọn là may hai chiếc mẫu giống hệt, kẹp thẻ ghi ngày duyệt và chữ ký, mỗi bên giữ một chiếc. Khi lô hàng về mà có tranh luận, hai chiếc này chấm dứt tranh luận trong vài phút. Không có chúng thì cuộc tranh luận sẽ dựa trên trí nhớ, và phần thiệt thường thuộc về bên mua.
Quyền sở hữu bộ rập nên thoả thuận từ đầu, nhất là khi kiểu dáng do bên mua thiết kế riêng. Ghi rõ xưởng giữ rập bao lâu sau khi đơn kết thúc, và bên mua có được nhận lại rập hay không. Đặt lại đợt hai mà rập cũ không còn thì phải dựng lại từ đầu và cỡ sẽ lệch so với đợt trước.
Khi duyệt mẫu, nên nhồi đầy rồi đeo thử ít nhất một buổi thay vì chỉ nhìn trên bàn. Nhiều lỗi chỉ lộ ra khi có tải: quai tí vai, khoá kéo bị căng lệch, đáy võng xuống, hoặc nắp trên không đủ vải để đóng khi ba lô đầy.
Khoá Kéo Đọc Theo Cỡ Số Chứ Không Theo Cảm Giác
Khoá kéo được gọi theo một con số đứng sau dấu thăng. Con số đó chính là bề rộng của dải răng tính bằng milimét khi khoá đã đóng. Khoá cỡ năm có dải răng rộng khoảng năm milimét, cỡ tám khoảng tám milimét, cỡ mười khoảng mười milimét. Số càng lớn thì răng càng to và chịu lực càng khá.
Biết được điều này thì việc đặt hàng rõ hẳn ra. Miệng ngăn chính của ba lô chứa sách vở hay máy tính nên dùng cỡ lớn hơn các ngăn phụ đựng bút và giấy tờ. Đặt chung một cỡ cho mọi ngăn là hoặc thừa tiền ở ngăn nhỏ, hoặc thiếu sức ở ngăn chính.
Ngoài cỡ số còn hai lựa chọn nữa. Răng nhựa đúc cứng hơn, chạy đẹp trên đoạn thẳng. Răng dạng cuộn xoắn mềm hơn, uốn theo đường cong tốt nên hợp với miệng túi bán nguyệt. Đầu khoá loại tự khoá sẽ đứng yên khi buông tay, tránh cảnh miệng ba lô tự hé ra lúc người đeo cúi xuống.
Một lưu ý nhỏ hay gây phiền: con chạy phải cùng cỡ với dải răng, lắp lệch cỡ là khoá sẽ nhả răng giữa đường. Cách đọc tên gọi đầy đủ của một bộ khoá được giải thích chi tiết trong tài liệu hướng dẫn về khoá kéo của Trivantage, rất đáng đọc trước khi đàm phán vật tư với xưởng.

Dây Đai, Khoen Và Điểm May Chịu Lực
Toàn bộ trọng lượng một chiếc ba lô dồn vào vài điểm rất nhỏ trên thân. Điểm nối quai phía trên là chỗ chịu nhiều nhất, kế đến là gốc quai xách ở nắp và hai điểm nối quai dưới. Ba vị trí này phải được ghi rõ cách may trong bản vẽ, không để xưởng tự quyết.
Cách làm chắc là kẹp đầu dây đai giữa hai lớp vải thân rồi may chồng nhiều đường, hoặc may một ô vuông có hai đường chéo bên trong. Kiểu may này trải lực ra cả mảng vải thay vì dồn vào một đường chỉ duy nhất. Gắn dây đai bằng một đường may ngang là kiểu bật sớm nhất. Đại lượng đứng sau ba vị trí này là lực bục đường may: ISO 13935-1 đo nó bằng cách cắt một băng mẫu vắt ngang đường may, kẹp hai đầu rồi kéo tới khi đường may hở, kết quả trả về bằng newton. Với ba lô mang tải, đây là chỉ tiêu nên yêu cầu xưởng công bố riêng cho điểm nối quai phía trên chứ không công bố chung cho cả sản phẩm.
Bản dây đai nên ghi bằng milimét trong đơn hàng. Dây bản hẹp cắt vào vai khi ba lô nặng, dây bản rộng trải lực tốt hơn nhưng tốn vật tư và làm ba lô trông thô. Phần cứng đi kèm gồm khoen chữ D để móc phụ kiện, khoá cài nhựa bật hai bên, và con trượt điều chỉnh chiều dài. Mỗi món đều có cỡ riêng và phải khớp bản dây.
Đáy túi là chỗ mòn trước tiên vì hay đặt xuống nền. Thêm một lớp vải kép ở đáy hoặc một tấm đệ cứng làm tăng giá không đáng kể nhưng kéo dài tuổi thọ rõ rệt, nhất là với đơn giao cho trường học hay công trường.
Chỉ May, Mật Độ Mũi Và Đường May Bọ
Chỉ là khoản rẻ nhất trong một chiếc ba lô nhưng hỏng chỉ là hỏng cả sản phẩm. Với đồ mang ra ngoài trời, chỉ polyester chịu ẩm và chịu tia nắng tốt hơn chỉ sợi bông. Trong đơn nên ghi loại chỉ và màu chỉ theo mã, vì màu chỉ lệch tông nhìn rất rõ trên nền vải tối.
Mật độ mũi chỉ cũng nên thoả thuận bằng con số trên một đoạn chiều dài cố định. Mũi quá thưa thì đường may dễ tách khi căng, mũi quá dày lại đục thủng vải thành một đường răng cưa và vải rách dọc theo chính đường may đó. Khoảng giữa hai thái cực này là thứ xưởng có kinh nghiệm biết rất rõ, chỉ cần hỏi và ghi lại. Đơn vị thường dùng để ghi con số ấy là số mũi trên 3 cm chiều dài đường may, đếm được bằng mắt ngay trên chiếc mẫu đối. Ghi kèm cả số mối bọ ở từng vị trí thì bên nhận hàng có hai con số đếm được trong vài giây, thay vì phải bàn với nhau về khái niệm may chắc.
Đường may bọ là một đoạn mũi chỉ dày đặc may chồng tại điểm chịu lực. Vị trí cần bọ gồm hai đầu đường may quai, miệng túi phụ, gốc quai xách và hai đầu đường khoá kéo. Đếm số mối bọ trên chiếc mẫu đối rồi ghi con số đó vào biên bản là cách kiểm tra rất nhanh khi lô hàng về.
Khâu hoàn thiện cũng đáng ghi vào yêu cầu: cắt sạch chỉ thừa, xử lý đầu dây đai bằng nhiệt để không tưa, và viền gấp mép ở những đường cắt hở. Một chiếc ba lô may tốt nhưng để sót chỉ thừa lủng thủng vẫn bị người nhận đánh giá là hàng ẩu.

Phép Thử Nghiệm Thu Lô Hàng Trước Khi Nhận
Nghiệm thu không cần phòng thí nghiệm. Năm phép thử dưới đây làm được ngay tại kho với vài chiếc lấy ngẫu nhiên, và đủ sức chặn những lỗi nặng nhất. Điều kiện duy nhất là phải làm trước khi ký biên bản nhận hàng.
| Phép thử | Cách làm | Dấu hiệu loại |
|---|---|---|
| Treo tải | Nhồi đầy rồi xách bằng quai trên, giữ yên một lúc | Đường may quai giãn hở, vải nhăn túm quanh điểm nối |
| Kéo dây đai | Kéo mạnh từng dây theo phương dọc | Con trượt tuột, khoen bật, chỉ bọ đứt |
| Đóng mở khoá | Kéo đi kéo lại nhiều lượt khi túi đã đầy | Răng nhả, khoá tự hé, con chạy kẹt vải |
| Phun nước | Xịt nước lên mặt vải, để vài phút rồi sờ mặt trong | Thấm xuyên qua lớp lót, đọng nước ở đường may |
| Đo lại | Đo theo đúng bảng điểm đo đã chốt | Vượt dung sai ở bất kỳ điểm nào |
Về số lượng lấy mẫu, không ai mở hết thùng. Cách thông thường là chọn ngẫu nhiên một tỷ lệ nhỏ trải đều trên các thùng, kèm điều khoản rằng nếu số chiếc lỗi vượt ngưỡng đã thoả thuận thì mở kiểm toàn bộ. Ghi ngưỡng này vào hợp đồng ngay từ đầu sẽ tránh được cuộc cãi vã lúc giao hàng. Riêng phép phun nước trong bảng trên chỉ là phép sàng lọc tại kho. Đại lượng thật đứng sau khả năng chống thấm của vải là áp suất thuỷ tĩnh mà mặt vải chịu được trước khi nước xuyên qua, đo bằng chiều cao cột nước tính theo milimét. Với lô hàng đi công trường hoặc dùng ngoài trời, con số này nên nằm trong yêu cầu kỹ thuật kèm theo tên mã vải.
Mỗi lỗi phát hiện nên chụp ảnh kèm thước đo đặt cạnh, ghi số thùng và vị trí. Bộ ảnh này gửi cho xưởng là cơ sở xử lý nhanh hơn rất nhiều so với mô tả bằng lời qua điện thoại.
Vật Tư Phụ, Mốc Thời Gian Và Chia Đợt Giao
Nhiều người tính tiến độ theo thời gian may mà quên thời gian chờ vật tư phụ. Khoá kéo đúng cỡ và đúng màu, khoen và khoá cài theo bản dây, nhãn dệt gắn trong lòng túi, tất cả đều phải đặt riêng và có thời gian về hàng. Màu đặc biệt thì còn lâu hơn vì phải chờ đủ sản lượng tối thiểu.
Một đơn may riêng thường đi qua các chặng: chốt bản vẽ đo, dựng rập, may mẫu đối, duyệt mẫu, đặt vật tư, chạy lô, nghiệm thu, giao hàng. Ghi mốc ngày cho từng chặng và gắn điều khoản thanh toán vào chặng thay vì trả một lần sẽ giữ được quyền điều chỉnh khi tiến độ trượt.
Với đơn giao cho nhiều chi nhánh, chia đợt là hợp lý nhưng phải ràng buộc một điều: các đợt dùng chung một lô vải và chung một lô khoá. Hai lô vải nhuộm khác mẻ vẫn có thể lệch nhẹ sắc độ, và sự lệch đó chỉ lộ ra khi hai chi nhánh gặp nhau trong một sự kiện của công ty.
Cuối cùng, nên giữ lại một bộ hồ sơ gồm bản vẽ đo đã chốt, ảnh chụp mẫu đối, biên bản nghiệm thu và mã vật tư phụ. Lần đặt sau chỉ cần gửi lại bộ này là xưởng bắt đầu được ngay, không phải làm lại vòng trao đổi từ đầu.

Tóm lại, phần quyết định chất lượng một đơn đặt may nằm ở những con số viết ra giấy chứ không ở lời hứa. Có bản vẽ đo, có mẫu đối đã ký, có cỡ khoá và cách may điểm chịu lực ghi rõ, có bộ phép thử khi nhận hàng thì xưởng nào cũng làm được đúng. Các đơn hàng cho xưởng may ba lô túi xách và các hạng mục đồng phục doanh nghiệp đi kèm đều nên dùng chung một bộ hồ sơ như vậy.


