Trang bị chữa cháy cho một nhà xưởng hay một cửa hàng không bắt đầu bằng câu hỏi mua bao nhiêu bình. Nó bắt đầu bằng câu hỏi ở đây cái gì sẽ cháy. Cùng một đám lửa, chất chữa cháy chọn sai vừa không dập được vừa làm tình huống xấu đi: xịt nước vào chảo dầu đang bốc lửa, xịt bọt vào tủ điện còn mang điện. Bài viết đi theo đúng trình tự đó, từ phân lớp đám cháy tới cách chọn, bố trí và duy trì thiết bị.
Đám Cháy Chia Lớp Nào Và Vì Sao Phải Chia
Cách phân lớp đám cháy đang dùng ở Việt Nam theo TCVN 4878, xây dựng trên cơ sở ISO 3941 về phân loại đám cháy. Nguyên tắc là chia theo bản chất chất cháy, không chia theo nơi xảy cháy. Một kho hàng có thể chứa đồng thời ba lớp khác nhau, và mỗi lớp đòi một cách xử lý riêng.
- Lớp A: chất rắn thông thường cháy có tạo than như gỗ, giấy, vải, rơm rạ, cao su.
- Lớp B: chất lỏng và chất rắn hoá lỏng khi cháy như xăng, dầu, sơn, dung môi, nhựa đường.
- Lớp C: chất khí như khí đốt hoá lỏng, khí công nghiệp trong đường ống.
- Lớp D: kim loại hoạt tính như magie, natri, bột nhôm, bột kẽm.
- Dầu mỡ nấu ăn trong bếp công nghiệp được tách thành nhóm riêng, ký hiệu lớp F trong hệ ISO.
Đám cháy trên thiết bị điện đang có điện không phải là một lớp riêng theo cách phân này. Nó là ràng buộc làm hẹp lựa chọn: chất chữa cháy phải không dẫn điện. Khi đã cắt được nguồn, đám cháy quay về đúng lớp của vật liệu đang cháy và xử lý như bình thường. Đây là lý do quy trình ứng phó luôn đặt bước cắt điện lên trước bước dập lửa.

Bình Chữa Cháy Xách Tay: Bột, Khí CO2, Bọt Foam
Bình xách tay là lớp phòng vệ đầu tiên, dành cho đám cháy còn nhỏ và người phát hiện còn đứng đủ gần để can thiệp an toàn. Yêu cầu về tính năng và kết cấu của nhóm bình chữa cháy xách tay được quy định trong TCVN 7026. Ba nhóm chất chữa cháy phổ biến nhất trên thị trường là bột khô, khí CO2 và bọt foam. Ba nhóm này khác nhau về bản chất, không phải khác nhau về thương hiệu.
Bình Bột Khô
Bột ABC là loại bột đa năng, dùng được cho cả ba lớp A, B và C nên phù hợp với kho hàng hỗn hợp, cửa hàng, xe cơ giới. Bột BC hẹp hơn, chỉ xử lý chất lỏng và chất khí, không dập được đám cháy có tạo than. Bột dập lửa bằng cách cắt phản ứng cháy và phủ cách ly bề mặt.
Bột chữa cháy kim loại lớp D là loại bột chuyên dụng hoàn toàn khác, thường gốc muối natri hoặc graphit. Không có chuyện lấy bình bột ABC thay cho bình lớp D. Nhầm ở điểm này rất nguy hiểm vì nhiều chất chữa cháy thông thường phản ứng mạnh với kim loại đang cháy.
Nhược điểm lớn nhất của bột nằm ở phần sau khi dập xong. Bột mịn bay khắp phòng, bám vào bo mạch, tiếp điểm, ổ đĩa và gây ăn mòn dần. Một đám cháy nhỏ trong phòng máy chủ dập bằng bột có thể để lại thiệt hại thứ cấp lớn hơn chính đám cháy. Vì vậy bột không nên là phương án chính cho khu vực nhiều thiết bị điện tử.
Bình Khí CO2
CO2 dập lửa bằng cách làm loãng nồng độ oxy quanh vùng cháy và làm mát cục bộ. Khí bay đi hết sau khi xả, không để lại cặn, nên đây là lựa chọn quen thuộc cho tủ điện, phòng thiết bị, phòng thí nghiệm. Bình CO2 nặng hơn bình bột cùng cỡ vì vỏ phải chịu áp cao.
Đổi lại, bình CO2 có ba giới hạn phải nhớ trước khi trang bị:
- Không dùng cho đám cháy kim loại lớp D.
- Không dùng trong không gian kín có người. Khí đẩy oxy ra khỏi vùng thở và gây ngạt cho chính người cầm bình.
- Loa phun lạnh sâu khi xả. Cầm vào phần kim loại của loa sẽ bị bỏng lạnh, phải cầm đúng tay cầm cách nhiệt.

Bình Bọt Foam
Bọt foam là chất chữa cháy dạng bọt gốc nước, không phải một loại bột. Nhầm hai thứ này khi đi mua là lỗi hay gặp. AFFF là tên viết tắt của Aqueous Film-Forming Foam, loại bọt tạo màng nước mỏng trải trên bề mặt nhiên liệu, vừa ngăn hơi bốc lên vừa làm nguội bề mặt. Đây là nhóm mạnh nhất với đám cháy lớp B ở dạng vũng, ví dụ dầu tràn trên nền xưởng.
Với dung môi phân cực như cồn hay aceton, màng bọt AFFF thông thường bị phá rất nhanh. Trường hợp này phải dùng bọt kháng cồn, thường ghi là AR-AFFF hoặc ARC trên nhãn. Nhà kho hoá chất chứa cồn công nghiệp cần kiểm tra đúng dòng chữ này chứ không chỉ nhìn chữ foam.
Vì bọt có gốc nước nên nó dẫn điện. Không dùng bình bọt cho thiết bị đang mang điện. Đây cũng là ranh giới rõ ràng giữa bọt và khí CO2 khi bố trí cho khu vực vừa có nhiên liệu vừa có tủ điện.
Thiết Bị Chữa Cháy Cố Định Trong Nhà Xưởng
Bình xách tay chỉ đủ cho vài phút đầu. Diện tích lớn cần lớp thứ hai gắn cố định vào công trình. Việc trang bị và bố trí phương tiện phòng cháy chữa cháy cho nhà và công trình được quy định trong TCVN 3890, và đây là tài liệu nên đọc trước khi lên phương án đầu tư.
- Họng nước vách tường: cuộn vòi và lăng phun đặt trong tủ, đấu vào đường ống chữa cháy của toà nhà, dùng cho đám cháy lớp A trên diện rộng.
- Hệ sprinkler: đầu phun tự động vỡ bầu thuỷ tinh khi nhiệt độ vượt ngưỡng, chỉ đầu phun ở vùng cháy hoạt động chứ không phun cả tầng.
- Hệ chữa cháy bằng khí: dùng cho phòng máy chủ, kho lưu trữ, phòng điều khiển, nơi không được để lại cặn.
- Bình xe đẩy: lượng chất chữa cháy lớn, kéo tới điểm cháy, phù hợp bãi xe, kho nhiên liệu, xưởng cơ khí.

Song song với thiết bị, cơ sở còn phải có đội chữa cháy tại chỗ. Người trong đội cần trang bị riêng, trong đó quần áo chống cháy cho đội chữa cháy cơ sở là hạng mục thường bị bỏ quên khi lập dự toán. Không có đồ bảo hộ đúng, người tiếp cận đám cháy chỉ đứng được vài giây rồi phải lùi.
Đầu Báo Khói Hay Đầu Báo Nhiệt Cho Từng Khu
Dập lửa sớm phụ thuộc vào việc biết sớm. Hệ báo cháy tự động làm phần đó, và hai loại cảm biến thông dụng nhất không thay thế được cho nhau.
Đầu báo khói quang học phát hiện hạt khói bằng cách đo ánh sáng bị tán xạ trong buồng cảm biến. Loại này nhạy với khói hạt lớn từ cháy âm ỉ, kiểu chập dây điện trong trần, tàn thuốc rơi vào thùng giấy, vải bị nung nóng. Vì đó là kịch bản phổ biến nhất trong nhà và văn phòng, đầu báo khói là lựa chọn mặc định cho hầu hết khu vực.
Đầu báo nhiệt không quan tâm tới khói. Loại ngưỡng cố định báo động khi nhiệt độ vượt mức đặt trước, loại gia tăng báo động khi nhiệt độ tăng quá nhanh trong thời gian ngắn. Nó chậm hơn đầu báo khói, đổi lại không bị đánh lừa bởi bụi, hơi nước, khói dầu mỡ hay khói xe.
Nguyên tắc chọn khá đơn giản. Nơi không khí sạch thì dùng đầu báo khói để biết sớm. Nơi bản thân môi trường đã có hạt lơ lửng như bếp, nhà xe, kho xi măng, xưởng gỗ thì dùng đầu báo nhiệt để tránh báo giả liên tục. Báo giả nhiều lần dẫn tới việc nhân viên tự tắt còi, và khi có cháy thật thì không ai còn tin chuông nữa.
Bố Trí Thiết Bị Theo Mặt Bằng Thay Vì Theo Số Lượng
Số bình trên giấy tờ không nói lên điều gì nếu người đứng cạnh đám cháy phải chạy vòng qua ba dãy kệ mới lấy được. Cách bố trí đúng là vẽ mặt bằng ra rồi đặt bình theo quãng đường đi bộ thực tế, chứ không phải chia đều theo diện tích trên bản vẽ.
- Treo bình ở lối đi chính và trên đường thoát nạn, nơi người ta chạy qua theo phản xạ.
- Đặt gần nguồn nguy hiểm nhưng không nằm giữa người và nguồn đó, để không phải lao vào lửa mới lấy được bình.
- Treo ở tầm với, có biển chỉ dẫn nhìn thấy từ xa, không kê hàng chắn trước mặt.
- Không xếp bình dưới sàn nơi dễ bị xe nâng va phải hoặc bị nước đọng làm gỉ chân đế.
- Ghi rõ trên bảng phân công ai phụ trách khu vực nào khi có báo động.
Lối thoát nạn cũng cần bộ dụng cụ đi kèm. Với nhà cao tầng, xe khách, phòng có vách kính cố định thì búa thoát hiểm phá kính nên treo cố định tại chỗ và có dây giữ, tránh việc lúc cần thì đã bị lấy đi mất.

Dấu Hiệu Một Bình Chữa Cháy Không Còn Dùng Được
Bình chữa cháy là thiết bị nằm im nhiều năm rồi phải hoạt động ngay lần đầu tiên được dùng. Không có cách nào biết nó còn tốt ngoài việc kiểm tra tay định kỳ. Chu kỳ kiểm tra và kiểm định thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất và quy định hiện hành, mỗi bình nên có phiếu theo dõi riêng ghi ngày kiểm và người kiểm.
- Bình bột có đồng hồ áp: kim phải nằm trong vùng xanh. Kim rơi về vùng đỏ bên trái là mất áp, bình sẽ không phun ra được.
- Bình CO2 không có đồng hồ: cách duy nhất là cân bình và so với khối lượng khí ghi dập nổi trên thân. Thiếu hụt đáng kể nghĩa là đã rò.
- Vỏ bình: móp, phồng, gỉ ở chân đế hoặc ở mối hàn thì loại bỏ, không nạp lại.
- Chốt hãm và kẹp chì: mất kẹp chì nghĩa là bình đã bị mở, phải kiểm tra lại toàn bộ.
- Vòi và loa phun: nứt, khô cứng, tắc thì thay, vì áp lực sẽ thoát ra ở chỗ nứt.
- Bột bên trong: bình để lâu ở nơi rung lắc và ẩm thì bột vón cục, lật ngược bình lắc thấy nặng chịch một khối là dấu hiệu xấu.
Trang Bị Đủ Số Lượng Nhưng Vẫn Không Dập Được Cháy
Phần lớn vấn đề gặp ở cơ sở không nằm ở việc thiếu tiền mua thiết bị, mà nằm ở vài quyết định sai lặp đi lặp lại.
- Mua đủ số lượng để qua đợt kiểm tra nhưng không ai trong ca trực từng cầm thử bình lần nào.
- Đặt bình bột làm phương án chính cho phòng máy chủ, đổi một sự cố nhỏ thành hỏng hàng loạt thiết bị.
- Dùng bình CO2 trong phòng kín có người, tạo ra rủi ro ngạt bên cạnh rủi ro cháy.
- Mua nhầm bọt thành bột hoặc ngược lại vì chỉ nhìn chữ tiếng Anh trên nhãn.
- Xếp hàng hoá chắn trước bình, khiến thiết bị có mặt trên sổ nhưng không có mặt lúc cần.
- Không cân bình CO2 suốt nhiều năm, tới lúc bóp cò mới biết trong bình chỉ còn không khí.
Một phương án chữa cháy dùng được là phương án mà người thường trực hiểu rõ: khu vực này cháy cái gì, lấy bình nào, bình đó nằm ở đâu và ai gọi báo cháy. Thiết bị chỉ là phần cứng của câu trả lời đó.
Lập Danh Mục Trang Bị Cho Một Mặt Bằng Cụ Thể
Phần này ghép các nguyên tắc phía trên thành một cách làm tuần tự. Bốn kiểu mặt bằng dưới đây bao gần hết các tình huống thường gặp, và điểm khác biệt giữa chúng nằm ở chất cháy chủ đạo chứ không ở diện tích.
Kho Hàng Bao Bì Và Giấy
Chất cháy chủ đạo là lớp A, khối lượng lớn và xếp cao. Đám cháy ở đây lan theo chiều đứng rất nhanh khi lửa bén lên mặt bên của khối hàng. Bình bột đa năng đặt dọc lối đi giữa các dãy kệ, kèm họng nước vách tường nếu công trình có hệ đường ống. Điểm phải kiểm thường xuyên là lối đi có bị hàng lấn chiếm hay không, vì kho đầy hàng là kho mất lối tiếp cận.
Xưởng Cơ Khí Và Khu Có Nhiên Liệu
Ở đây có lớp B rõ rệt: dầu máy, dầu cắt gọt, dung môi rửa chi tiết, kèm nguy cơ tia lửa từ máy mài và máy hàn. Khu chứa can dầu nên có bình bọt hoặc bình bột đặt ngay ngoài cửa. Vị trí hàn cắt cần bình xách tay đặt sẵn trong tầm với trong suốt thời gian làm việc, kèm người canh lửa. Với bãi để can và thùng phuy diện tích rộng, bình xe đẩy hợp lý hơn nhiều bình nhỏ rải rác.
Văn Phòng Và Phòng Thiết Bị
Chất cháy phổ biến là giấy, đồ nhựa và dây điện, nhưng ràng buộc lớn nhất là không được để lại cặn lên máy. Bình khí đặt trong phòng thiết bị và cạnh tủ điện, bình bột đặt ở hành lang chung nơi không có thiết bị nhạy. Đầu báo khói lắp theo trần và theo trần giả, vì nhiều đám cháy văn phòng khởi phát trong khoang trần chứ không phải trong phòng.
Bếp Ăn Tập Thể
Đây là nơi dễ chọn sai nhất. Dầu mỡ nấu ăn cháy ở nhiệt độ rất cao và đổ nước vào chảo dầu đang cháy sẽ làm dầu bắn tung thành cầu lửa. Nhóm nguy cơ này cần chất chữa cháy chuyên dụng cho dầu mỡ nấu ăn cùng nắp đậy chảo và chăn chữa cháy đặt ngay tại bếp. Hệ hút mùi phải được vệ sinh định kỳ, vì lớp mỡ bám trong ống hút chính là đường dẫn lửa lên mái.
Sau khi liệt kê xong, hãy đi một vòng theo đúng lối mà người trực sẽ chạy khi có báo động và bấm giờ. Nếu quãng đường tới bình gần nhất dài hơn mức chấp nhận được, danh mục cần thêm điểm đặt chứ không cần thêm loại bình mới.


