Ứng Dụng Găng Tay Chịu Nhiệt Vào Đời Sống Hiện Nay

Găng tay chịu nhiệt là nhóm hàng dễ mua nhầm nhất trong toàn bộ dòng găng bảo hộ. Lý do là chữ chịu nhiệt gộp chung ít nhất sáu loại mối nguy khác nhau, mà mỗi loại đòi một cấu trúc vật liệu riêng. Một đôi găng chịu được chảo nóng chưa chắc chịu được giọt kim loại bắn ra từ mối hàn.

Bài này đi thẳng vào cách đọc năng lực thật của một đôi găng, thay vì liệt kê công dụng chung. Phạm vi gọn trong găng chống nhiệt nóng, không bao gồm găng giữ ấm mùa đông hay găng thao tác kho lạnh, vì hai nhóm đó có tiêu chuẩn riêng.

Găng tay chịu nhiệt cổ dài che quá cổ tay, may nhiều lớp ở lòng bàn tay

Găng Tay Chịu Nhiệt Được Chấm Điểm Ra Sao Theo EN 407

EN 407 là tiêu chuẩn châu Âu dành cho găng bảo vệ trước rủi ro nhiệt và lửa, bản hiện hành ban hành năm 2020 thay cho bản cũ. Thay vì cho một kết luận đạt hay không đạt, tiêu chuẩn này chấm sáu chỉ tiêu riêng biệt, mỗi chỉ tiêu một điểm từ 1 đến 4. Dãy sáu ký tự in dưới hình ngọn lửa trên găng chính là hồ sơ năng lực của đôi găng đó.

  • Ký tự thứ nhất là khả năng chống cháy lan, đo thời gian vật liệu còn cháy tiếp sau khi rút ngọn lửa ra.
  • Ký tự thứ hai là nhiệt tiếp xúc, ứng với các mốc 100, 250, 350 và 500 độ C.
  • Ký tự thứ ba là nhiệt đối lưu, tức luồng khí nóng phủ lên găng.
  • Ký tự thứ tư là nhiệt bức xạ từ vật nóng đỏ ở gần mà tay chưa chạm vào.
  • Ký tự thứ năm là giọt kim loại nóng chảy nhỏ bắn vào, tính theo số giọt chịu được.
  • Ký tự thứ sáu là kim loại nóng chảy khối lượng lớn, tính theo số gam sắt nóng chảy dội qua.

Chữ X ở bất kỳ vị trí nào nghĩa là nhà sản xuất không thử hoặc không công bố chỉ tiêu đó. Đây không phải lỗi, nhưng người mua cần hiểu rằng phần đó không có căn cứ nào. Găng ghi X ở hai ký tự cuối thì không được dùng ở nơi có kim loại nóng chảy, dù các chỉ tiêu khác điểm cao.

EN 407 còn một ràng buộc chéo giữa các chỉ tiêu. Muốn công bố điểm 3 hoặc 4 ở bất kỳ chỉ tiêu nhiệt nào, đôi găng bắt buộc phải đạt tối thiểu điểm 3 ở chỉ tiêu chống cháy lan. Nếu không, mọi chỉ tiêu còn lại bị giới hạn ở điểm 2. Điều đó giải thích vì sao nhiều đôi găng chịu nhiệt rất tốt trên thực tế vẫn chỉ ghi điểm 2.

Mô tả đầy đủ từng phép thử và ngưỡng điểm có trong tài liệu giải thích EN 407 của SATRA, một phòng thử nghiệm phương tiện bảo vệ cá nhân. Đây là tài liệu nên mở ra khi cần đối chiếu một dãy số cụ thể trên nhãn đang cầm trên tay.

Mỗi Kiểu Truyền Nhiệt Đòi Một Vật Liệu Riêng

Nhiệt tiếp xúc là trường hợp tay cầm thẳng vào vật nóng: khuôn đúc, phôi thép, nắp lò, khay nướng. Thứ cần ở đây là bề dày và khả năng cách nhiệt của lớp giữa. Da bò dày có lót sợi chịu nhiệt hoặc găng dệt dày nhiều lớp là hướng phù hợp. Găng mỏng tráng bạc nhìn rất hiện đại lại kém ở chỉ tiêu này vì không có bề dày.

Nhiệt đối lưu là luồng khí nóng thổi qua, gặp khi mở cửa lò, khi đứng cạnh nguồn xả nhiệt hoặc khi có ngọn lửa tạt ngang. Ở đây phần quyết định là sự kín khít và khả năng giữ không khí tĩnh trong lớp lót. Cổ găng hở miệng rộng cho luồng khí nóng luồn thẳng vào trong là lỗi thiết kế hay gặp ở hàng rẻ.

Găng tay tráng nhôm phản xạ nhiệt bức xạ, cổ dài bảo vệ cềng tay

Nhiệt bức xạ là loại truyền qua khoảng không, không cần chạm và không cần gió. Thợ đứng trước cửa lò nung hoặc cạnh dòng kim loại nóng đỏ chịu đúng loại này. Giải pháp hiệu quả nhất là bề mặt phản xạ, tức lớp tráng nhôm trên mặt ngoài. Đây chính là trường hợp găng tráng nhôm vượt xa găng da dày, ngược với trường hợp nhiệt tiếp xúc.

Hai chỉ tiêu kim loại nóng chảy đòi một thuộc tính khác nữa: bề mặt phải trơn để giọt kim loại trượt xuống thay vì bám lại và đốt thủng. Vải xù lông giữ giọt kim loại nằm nguyên tại chỗ nên tệ hơn hẳn, kể cả khi vật liệu chịu nhiệt tốt. Đó là lý do găng hàn thường dùng da nhẵn mặt ngoài.

Kết luận rút ra rất thực dụng: không có đôi găng nào đứng đầu ở cả sáu chỉ tiêu. Chọn găng là chọn đúng hai hoặc ba chỉ tiêu mà công việc thực sự cần, rồi chấp nhận điểm thấp ở phần còn lại để đổi lấy độ khéo tay và giá hợp lý.

Nghề Nào Cần Chỉ Tiêu Nào

Thợ đúc và thợ luyện kim làm việc cạnh kim loại lỏng. Hai chỉ tiêu phải ưu tiên là giọt kim loại nhỏ và kim loại khối lượng lớn, kèm nhiệt bức xạ. Cổ găng phải dài quá cổ tay và luồn được ra ngoài ống tay áo, để giọt kim loại trượt xuống đất thay vì chạy vào trong ống tay.

Thợ hàn cần một hỗn hợp khác: chống cháy lan tốt, chịu được tia lửa bắn, và vẫn đủ mềm để cầm que hàn. Găng quá dày làm mất cảm giác tay, dẫn đến mối hàn xấu và người thợ tự tháo găng ra. Ở vị trí này, găng phải đi cùng bộ mặt nạ hàn và tạp dệ da thì mới đủ bảo vệ.

Thợ bếp công nghiệp và công nhân lò nướng chủ yếu gặp nhiệt tiếp xúc ở dải thấp hơn, kèm hơi nước nóng. Yêu cầu thêm ở đây là vật liệu chịu được giặt thường xuyên và không ngấm dầu mỡ. Găng dệt dày không tráng phủ sẽ hút hơi nước rồi truyền nhiệt rất nhanh, là tình huống gây bỏng phổ biến mà ít ai ngờ.

Găng tay chịu nhiệt dệt dày dùng cầm vật nóng trong xưởng

Thợ bảo trì cơ khí thường gặp mối nguy chồng lớp: vừa nóng vừa có cạnh sắc từ ba via và phoi. Trường hợp này cần đọc thêm chỉ số chống cắt ghi trên cùng đôi găng, vì hai họ tiêu chuẩn này độc lập với nhau. Cách đọc mã chống cắt nằm ở danh mục găng tay chống cắt.

Cuối cùng là nhóm xử lý sự cố và cứu hỏa nội bộ. Găng cho nhóm này không thuộc phạm vi EN 407 mà có tiêu chuẩn riêng cho lính chữa cháy. Đặt găng xưởng thông thường vào vị trí đó là sai ngay từ khâu lập danh mục trang bị.

Sợi Amiăng Đã Bị Loại Khỏi Găng Chịu Nhiệt

Nhiều tài liệu cũ và không ít mô tả bán hàng hiện nay vẫn liệt kê sợi amiăng như một vật liệu chịu nhiệt thông dụng. Đây là thông tin cần được bỏ hẳn. Tổ chức Y tế Thế giới xếp mọi dạng amiăng vào nhóm gây ung thư ở người, và không tồn tại ngưỡng phơi nhiễm được coi là an toàn.

Vấn đề với găng tay càng rõ hơn so với các ứng dụng khác. Găng bị vò xoắn, cọ xát và giũ liên tục ngay trước mặt người đeo. Đó là cơ chế phát tán sợi vào vùng thở hiệu quả nhất có thể hình dung. Ngay cả khi đôi găng cũ vẫn còn dùng được, giữ nó trong xưởng là giữ một nguồn phát sợi.

Các vật liệu thay thế hiện đã phổ biến và có sẵn trên thị trường: sợi aramid, sợi thủy tinh dệt, sợi cotton xử lý chịu nhiệt, da bò xử lý và các kiểu kết hợp tráng nhôm bên ngoài. Nhóm này đạt điểm cao theo EN 407 mà không mang theo rủi ro ung thư của bụi amiăng.

Riêng sợi gốm chịu lửa cần được tách ra khỏi danh sách vừa nêu. Loại này chịu nhiệt rất tốt và vẫn bán rộng rãi, nhưng bụi của nó nằm trong diện nghi ngờ gây ung thư ở người, nên xếp nó ngang hàng với aramid hay da xử lý là hạ nhẹ mức nguy hiểm. Sợi thủy tinh và silica sạch hơn ở khoản này, đổi lại vẫn gây ngứa da và kích ứng đường thở khi găng cũ mụn sợi ra. Bỏ được amiăng mới xong một nửa việc: khâu cắt, sửa và thải bỏ găng dệt vẫn phải che chắn hô hấp.

Khi rà soát kho, nên kiểm tra cả những đôi găng không còn nhãn. Găng dệt màu trắng ngà, sợi thô và xù bông khi cọ là dấu hiệu cần đặt câu hỏi. Trường hợp không xác định được vật liệu, cách xử lý đúng là không đưa vào sử dụng và hỏi đơn vị quản lý về quy trình thải bỏ, chứ không phải vứt chung vào thùng rác xưởng.

Lớp Lót Và Chiều Dài Cổ Găng

Lớp lót làm phần lớn công việc cách nhiệt, nhưng lại nằm khuất nên ít được kiểm tra. Kiểu lót xốp giữ khí tĩnh cho hiệu quả cách nhiệt tốt nhưng bại nhanh sau vài tuần bóp nắm. Kiểu lót dệt nhiều lớp bền hơn nhưng dày và cứng tay hơn. Khi so hai mẫu, nên lộn trái cổ găng để nhìn thật lớp bên trong.

Chỉ khâu là điểm yếu kinh điển. Găng dùng chỉ polyester thông thường sẽ chảy ở đường may trước khi vải hề hấn gì, và đôi găng bục ra ngay giữa ca. Chỉ khâu phải cùng họ chịu nhiệt với vải. Cách thử nhanh là xem đường may lòng bàn tay có được giấu vào trong hay phơi ra ngoài chịu nhiệt trực tiếp.

Găng tay da chịu nhiệt với đường may gia cố ở lòng bàn tay và kẽ ngón

Chiều dài cổ găng quyết định vùng da được che. Cổ ngắn chỉ đủ cho việc cầm nắm nhanh trên bàn. Cổ trùm qua cổ tay phù hợp với đa số công việc xưởng. Cổ dài đến khuỷu tay cần cho người phải thọc tay vào lò hoặc thao tác bên trên dòng kim loại nóng. Chọn cổ quá dài cho việc không cần làm người dùng vướng và tự xắn lên.

Cách thoát găng là chi tiết nhỏ nhưng đáng giá. Trong tình huống kim loại nóng lọt vào trong, người đeo phải rút tay ra được trong một nhịp. Vì vậy găng cho môi trường đúc thường được làm rộng ở cổ, không bó chặt và không có dây rút siết. Đây là trường hợp mà bó sát lại là nhược điểm.

Buổi Thử Tay Của Chính Người Sẽ Đeo

Găng đạt chuẩn trên giấy nhưng không cầm được dụng cụ sẽ bị tháo ra, và khi đó mọi chỉ số trở nên vô nghĩa. Vì vậy bước thử thực tế nên làm trước khi chốt đơn, và nên giao cho chính người sẽ dùng chứ không phải bộ phận mua hàng.

  • Cầm đúng loại dụng cụ hay dùng nhất, xoay và siết thử vài vòng xem có trượt không.
  • Nắm chặt rồi mở ra hai mươi lần liên tiếp để xem găng có cứng gây mỏi tay không.
  • Đeo liên tục một giờ trong điều kiện thật để đánh giá mức đổ mồ hôi và cảm giác bí.
  • Thử đeo và tháo nhanh bằng một tay, mô phỏng tình huống phải rút tay gấp.
  • Lấy mẫu ít nhất hai cỡ cho mỗi vị trí, vì cỡ tay trong một đội chênh nhau khá nhiều.

Trang bị quanh bàn tay cũng cần được tính cùng lúc. Găng tốt đi cùng ống tay áo mỏng dễ bắt lửa thì phần cềng tay vẫn hở. Bộ đồ chịu nhiệt cho cả người, gồm áo yếm và ống tay rời, nằm ở danh mục quần áo chịu nhiệt, nên đối chiếu cùng lúc khi lập dự trù.

Dấu Hiệu Phải Thay Găng Ngay

Găng chịu nhiệt xuống cấp theo kiểu khác với găng thường. Nó không rách toạc mà mất dần khả năng cách nhiệt trong khi bề ngoài vẫn còn nguyên. Người dùng chỉ phát hiện khi đã thấy nóng rát, tức là đã muộn. Vì vậy cần một danh sách dấu hiệu để loại bỏ chủ động.

Găng chịu nhiệt dệt nhiều lớp dùng cho thao tác cầm vật nóng ngắn hạn

Dấu hiệu đầu tiên là vùng lòng bàn tay bị bại, sờ mỏng hẳn so với phần mu bàn tay. Lớp lót ở đó đã xẹp và mất lớp khí cách nhiệt. Dấu hiệu thứ hai là vết cháy sạm hoặc cứng giòn ở đầu ngón, nơi tiếp xúc nhiều nhất. Vải đã giòn sẽ vỡ ra khi gặp va đập.

Dấu hiệu thứ ba là lớp tráng nhôm bị bọc, tróc mảng hoặc xạm đi. Bề mặt mất độ bóng thì khả năng phản xạ nhiệt bức xạ giảm rõ rệt. Dấu hiệu thứ tư là găng ngấm dầu mỡ: dầu vừa dẫn nhiệt tốt hơn không khí, vừa là chất dễ bắt lửa ngay trên tay người đeo.

Giặt găng cũng cần theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Nước nóng, chất tẩy mạnh và sấy ở nhiệt cao làm co vải và hỏng lớp xử lý bề mặt. Một số loại găng tráng phủ không giặt được, chỉ lau. Việc giặt sai làm giảm cấp bảo vệ mà không để lại dấu vết dễ thấy nào.

Cách quản lý đơn giản mà hiệu quả là đặt chu kỳ thay theo vị trí công việc, kèm một lần soi nhanh vào đầu ca. Vị trí nào cũng nên có sẵn một đôi dự phòng trong tủ, vì lý do phổ biến nhất khiến người thợ làm việc bằng tay trần là găng hỏng giữa ca mà không có cái thay.

Găng đã loại bỏ nên được cắt bỏ hoặc đánh dấu rõ trước khi bỏ vào thùng rác. Trong thực tế, một đôi găng còn lành lặn nằm trong thùng rác rất hay được ai đó nhặt lại dùng tiếp, và người nhặt không biết lý do nó bị loại. Việc cắt một nhát vào lòng bàn tay giải quyết dứt điểm chuyện này.

Nhóm việc còn lại nằm ở hồ sơ. Với vị trí có mối nguy nhiệt cao, biên bản cấp phát nên ghi rõ mã sản phẩm và dãy chỉ số theo EN 407 của đôi găng đã cấp, không chỉ ghi chung là găng chịu nhiệt. Khi cần thay hoặc mua bổ sung, dòng ghi đó cho phép đặt đúng loại thay vì đặt lại từ đầu bằng cảm tính, và nó cũng là căn cứ khi rà soát lại sau một sự cố bỏng tay.

Để lại một bình luận