Bụi mịn, khói hàn và sương hoá chất đều là mối nguy âm thầm cho đường hô hấp. Khẩu trang chống bụi 3M được nhiều nhà máy chọn vì các dòng này đều có cấp lọc công bố bằng con số và có tài liệu kỹ thuật tra được. Nhưng chính vì có nhiều hệ ký hiệu khác nhau mà việc chọn nhầm cấp lọc cũng rất hay xảy ra.
Lớp Lọc Của Khẩu Trang Chống Bụi 3M Giữ Hạt Bằng Cách Nào
Khác với khẩu trang vải chỉ cản được hạt bụi thô, lớp lọc của khẩu trang 3M là một tấm sợi siêu mịn được tích điện. Hạt lớn bị chặn lại theo kiểu cơ học, còn hạt rất nhỏ bị hút vào sợi nhờ lực tĩnh điện thay vì bay lọt qua khe. Nhờ cơ chế kép đó, tấm lọc giữ được hạt nhỏ hơn nhiều so với kích thước khe giữa các sợi.
Chi tiết này giải thích hai điều thực tế. Thứ nhất, không thể nhìn vào độ dày của chiếc khẩu trang để đoán khả năng lọc, vì phần làm việc là một lớp mỏng nằm giữa. Thứ hai, mọi tác động làm mất điện tích trên sợi — như giặt, xịt cồn hay phơi nắng — đều làm giảm hiệu suất lọc, dù nhìn bằng mắt chiếc khẩu trang vẫn nguyên vẹn.
Phần thân khẩu trang ôm khuôn mặt và kẹp mũi kim loại có vai trò không kém lớp lọc. Không khí luôn đi theo đường ít cản nhất, nên chỉ cần có một khe hở ở sống mũi là phần lớn không khí sẽ đi vòng qua khe đó thay vì xuyên qua tấm lọc. Một chiếc khẩu trang cấp lọc cao nhưng đeo hở có thể bảo vệ kém hơn chiếc cấp thấp hơn nhưng ôm kín.

Đọc Cấp Lọc N95, N99 Và N100
Đây là hệ ký hiệu của NIOSH, cơ quan thuộc Hoa Kỳ chịu trách nhiệm phê duyệt thiết bị bảo vệ hô hấp. Ký hiệu gồm một chữ cái và một con số, và hai phần đó nói về hai việc hoàn toàn khác nhau. Con số là hiệu suất lọc tối thiểu: 95 nghĩa là lọc ít nhất 95 phần trăm hạt, 99 là 99 phần trăm, còn 100 tương ứng 99,97 phần trăm.
Chữ cái đi kèm không nói gì về mức lọc mà nói về khả năng chịu dầu. Chữ N là không kháng dầu, chữ R là kháng dầu một phần, chữ P là kháng dầu mạnh. Định nghĩa này nằm trong tài liệu phân loại tấm lọc của NIOSH. Trong xưởng có sương dầu cắt gọt hay sương dầu máy, một chiếc N95 sẽ xuống cấp nhanh vì dầu bám làm trung hoà điện tích trên sợi lọc.
Giới hạn thứ hai nằm ở chính chữ cái đó: toàn bộ họ N, R, P chỉ lọc hạt. Chúng không giữ được khí và hơi. Một mẫu tiêu biểu là 3M 8210, được phê duyệt ở cấp N95, và tài liệu kỹ thuật của chính hãng ghi rõ không dùng cho khí, hơi, sương dầu và phun cát mài mòn. Để nhầm chỗ này là vừa tốn tiền vừa để người lao động phơi nhiễm mà vẫn tưởng mình đang được bảo vệ.
Ký Hiệu KN Và FFP Trên Cùng Một Kệ Hàng
Trên thị trường Việt Nam, khẩu trang 3M đến từ nhiều nguồn sản xuất nên có tới ba hệ ký hiệu cùng nằm trên một kệ. Ngoài hệ N của NIOSH, còn có hệ KN theo tiêu chuẩn Trung Quốc và hệ FFP theo tiêu chuẩn châu Âu. Biết điều này giúp tránh việc so hai sản phẩm bằng hai thước khác nhau rồi kết luận sai.
- Nhóm mang ký hiệu KN thuộc tiêu chuẩn GB2626 của Trung Quốc. Các mã 3M 9001, 9002 và hai bản có van là 9001V, 9002V thuộc cấp KN90. Khác biệt giữa 9001 và 9002 là kiểu dây: một bản đeo tai, một bản đeo qua đầu.
- Nhóm mang ký hiệu FFP thuộc tiêu chuẩn châu Âu, chia ba mức tăng dần.
- Nhóm mang ký hiệu N thuộc hệ NIOSH đã nói ở trên.
Khi lập hồ sơ trang bị bảo hộ cho một nhà máy, nên chọn một hệ duy nhất và ghi rõ cấp yêu cầu trong văn bản nội bộ. Việc trộn lẫn KN90 với N95 trong cùng một dòng dự trù khiến bộ phận mua hàng chọn theo giá và vô tình hạ cấp bảo vệ của cả lô. Cũng nên yêu cầu nhà cung cấp xuất tài liệu kỹ thuật đứng đúng mã hàng đang giao, phiếu của mã khác cùng hãng không có giá trị đối chiếu.
Ba hệ ấy đều gắn một con số vào ký hiệu, chỉ khác chỗ con số nằm ở đâu. Hệ châu Âu theo EN 149 chia ba bậc với hiệu suất lọc tối thiểu lần lượt là 80 phần trăm cho FFP1, 94 phần trăm cho FFP2 và 99 phần trăm cho FFP3; bộ tiêu chuẩn này còn ràng thêm mức rò lọt tổng vào trong, tức phần khí đi vòng qua mép chứ không qua tấm lọc, siết dần theo từng bậc. Hệ Trung Quốc theo GB2626 đặt số ngay sau chữ KN, nên KN90 nghĩa là lọc tối thiểu 90 phần trăm. Đặt ba con số cạnh nhau thì thấy KN90 lọc kém hơn N95 và kém hơn FFP2, chỉ nhỉnh hơn FFP1 về hiệu suất tối thiểu. Vì ba hệ dùng phép thử và loại bụi thử khác nhau, đây chỉ là phép so thô chứ không phải bảng quy đổi. Dù vậy, thay một dòng dự trù N95 bằng KN90 vì giá mềm hơn vẫn là hạ cấp bảo vệ, không phải đổi thương hiệu.

Van Thở Giúp Gì Và Không Giúp Gì
Van thở một chiều, 3M gọi là van Cool Flow, hoạt động rất đơn giản. Khi hít vào, van đóng để không khí buộc phải đi qua lớp lọc. Khi thở ra, van mở để hơi nóng và hơi ẩm thoát thẳng ra ngoài. Kết quả là bên trong khẩu trang mát hơn, ít đọng ẩm hơn và kính đỡ bị mờ — ba thứ quyết định việc người lao động có chịu đeo hết ca hay không.
Nhưng van chỉ làm đúng việc đó. Nó không lọc khí thở ra, nghĩa là những gì người đeo thở ra sẽ đi thẳng vào không gian xung quanh. Vì vậy ở khu vực cần bảo vệ người khác hoặc cần giữ sạch sản phẩm, như phòng sạch và khu chế biến thực phẩm, người ta chọn bản không van. Đây là tiêu chí chọn theo mục đích, không phải theo mức giá.
Một lưu ý nhỏ khi nhận hàng: van là chi tiết cơ khí nên có thể kẹt. Lấy ngẫu nhiên vài chiếc trong lô, lật mặt trong và xem lá van có nằm phẳng trên bệ không, có bị cong vênh hay dính bụi nhựa từ khâu đúc không. Lá van bị kênh hở làm không khí bẩn đi ngược vào trong mà người đeo không biết.
Lớp Than Hoạt Tính Chỉ Khử Mùi Dưới Ngưỡng Cho Phép
Một số dòng khẩu trang 3M có thêm lớp than hoạt tính bên trong. Đây là chỗ bị hiểu sai nhiều nhất và hậu quả cũng nặng nhất. Hướng dẫn sử dụng của chính 3M cho dòng có than hoạt tính ghi rằng sản phẩm dùng cho hơi hữu cơ ở mức phiền toái, và giải thích luôn mức phiền toái là nồng độ dưới giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp, kèm câu cấm dùng để bảo vệ trước hơi hữu cơ vượt giới hạn đó.
Diễn giải cho dễ hiểu: lớp than giúp bớt khó chịu vì mùi, chứ không phải thiết bị bảo vệ trước dung môi. Thợ sơn, người pha hoá chất và người làm trong phòng kín có dung môi cần một mặt nạ có phin lọc hơi hữu cơ chứ không phải khẩu trang than hoạt tính. Đây là ranh giới không thương lượng được bằng ngân sách.
Cách nhận biết lớp than đã hết tác dụng cũng đơn giản: người đeo bắt đầu ngửi thấy mùi xuyên qua khẩu trang. Khi đó phải thay ngay, không chờ hết ca. Phần cơ chế hấp phụ của than và cách nhận biết bão hoà được nói kỹ hơn ở danh mục khẩu trang than hoạt tính.

Kiểm Độ Kín Trước Khi Vào Ca
Phép kiểm này chỉ mất vài giây và nên thành thói quen bắt buộc mỗi lần đeo. Sau khi chỉnh kẹp mũi ôm theo sống mũi bằng hai ngón tay chứ không bằng một ngón, úp lòng bàn tay che kín mặt trước khẩu trang rồi thở ra mạnh. Nếu khí xì ra ở sống mũi hoặc hai bên gò má, khẩu trang đang hở và phải chỉnh lại. Với bản có van, làm ngược lại bằng cách hít vào và cảm nhận khẩu trang hút sát vào mặt.
Phép vừa mô tả có tên riêng và không thay được một phép khác. Chương trình bảo vệ hô hấp quy định tại 29 CFR 1910.134 của cơ quan an toàn lao động Hoa Kỳ tách rõ hai việc: kiểm độ kín do chính người đeo tự làm mỗi lần đeo, và phép thử độ vừa khuôn mặt chạy trước khi cấp phát lần đầu rồi lặp lại định kỳ, do người khác thực hiện bằng quy trình định tính hoặc định lượng và có biên bản lưu. Cùng văn bản này gán cho mỗi kiểu thiết bị một hệ số bảo vệ được chỉ định; với khẩu trang lọc bụi ôm nửa mặt, con số đó là 10, hiểu là nồng độ bên ngoài không được vượt quá mười lần giới hạn tiếp xúc cho phép của chất đang có. Ngoài ra chương trình còn đòi đánh giá sức khoẻ trước khi cho một người bắt đầu đeo, vì trở lực thở thêm vào là gánh nặng thật cho tim phổi.
Hai yếu tố phá hỏng độ kín mà không cách nào khắc phục bằng thao tác: râu quai nón và gọng kính đi qua vùng viền. Râu mọc ở vùng viền làm khí đi lọt dù chiếc khẩu trang tốt đến đâu. Đây là nội dung cần đưa vào buổi hướng dẫn ban đầu, vì để đến khi kiểm tra định kỳ mới nói thì người lao động đã quen với cách đeo sai.
Về cỡ, chỉ cần nhớ hai hướng sai. Quá rộng thì bụi đi vòng qua khe hở; quá chật thì đau sống mũi và người đeo sẽ tự kéo xuống cằm sau vài giờ. Với đội đông người, nên nhập ít nhất hai kiểu dây đeo để người làm cả ca chọn bản đeo qua đầu, tránh đau vành tai.
Khẩu Trang Lọc Bụi Không Giặt Để Dùng Lại
Hướng dẫn sử dụng của 3M cho các dòng khẩu trang lọc bụi đều có một dòng cấm rõ ràng: không được cải tiến, giặt hoặc dùng sai mục đích chiếc khẩu trang. Lý do nằm ở phần cơ chế đã nói ở đầu bài: nước, xà phòng và cồn làm mất điện tích trên sợi lọc, và hiệu suất lọc tụt xuống trong khi chiếc khẩu trang nhìn vẫn như mới.
Điều này khác với việc dùng lại trong ca. Một chiếc khẩu trang có thể đeo lại nhiều lần bởi chính người đó cho đến khi bẩn, hư hỏng hoặc thấy khó thở hơn rõ rệt. Không chuyển cho người khác, không giặt, không xịt cồn, không phơi nắng. Bốn điều cấm này nên dán ngay tại chỗ cấp phát.
- Thay ngay khi thấy hít thở nặng hơn bình thường rõ rệt.
- Thay ngay khi ngửi thấy mùi xuyên qua lớp lọc.
- Thay ngay khi thân khẩu trang bẩn, ẩm, biến dạng hoặc dây đeo giãn.
- Thay ngay sau khi vào khu vực có văng dịch hoặc sương dầu bám lên mặt ngoài.
- Cất khẩu trang chưa dùng trong bao bì kín, nơi khô ráo, không để chung với hoá chất có mùi.
Cuối cùng là chuyện nguồn mua. Chỉ nhận hàng từ đơn vị xuất được hoá đơn và tài liệu kỹ thuật đứng đúng mã hàng. Khi cần so sánh nhiều cấu hình trước lúc chốt, có thể xem qua nhóm bảo hộ hô hấp để nắm dải sản phẩm từ khẩu trang lọc bụi đến mặt nạ có phin, rồi mới gửi yêu cầu báo giá theo đúng cấp bảo vệ cần dùng.
Còn một phép đối chiếu nữa làm được ngay tại bàn giao hàng, không phải chờ hồ sơ. Mọi khẩu trang lọc bụi được NIOSH phê duyệt đều mang một mã phê duyệt in trên thân hoặc trên dây đeo, dạng TC-84A kèm bốn chữ số. Lấy ngẫu nhiên vài chiếc trong lô, đọc mã đó rồi tra ngược trong danh mục thiết bị đã chứng nhận do chính NIOSH công bố: kết quả phải trả về đúng tên hãng và đúng mã sản phẩm ghi trên hộp. Mã không tra ra, hoặc tra ra một hãng khác, là dấu hiệu dừng nhận lô. Kèm theo đó nên kiểm hai thứ in trên hộp: ngày sản xuất hoặc hạn dùng, và tình trạng bao gói còn nguyên niêm — tấm lọc tích điện để lâu trong kho ẩm mất dần hiệu lực trước cả khi hộp được mở.

Là chuyên viên phát triển sản phẩm và kiểm định thiết bị bảo hộ lao động, tôi am hiểu sâu về các dòng sản phẩm như mũ bảo hộ, kính chống bụi, găng tay cách điện, giày chống trượt, mặt nạ phòng độc… Tôi thường xuyên cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (CE, ANSI, TCVN…) để đưa ra giải pháp bảo hộ tối ưu, đồng thời kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra trước khi cung cấp ra thị trường.


