Ủng cách điện là lớp bảo vệ cuối cùng giữa bàn chân người thợ điện và mặt đất. Nhiệm vụ của nó là chặn đường dòng điện đi xuống đất qua chân, nhờ điện trở rất cao của khối cao su. Đây là điểm cần nắm ngay từ đầu, vì nó quyết định toàn bộ cách đọc thông số và cách kiểm tra phía sau.
Thị trường Việt Nam đang lưu hành bốn nhóm hàng chính. Bài này đặt chúng cạnh nhau theo những tiêu chí có thể kiểm chứng được bằng mắt và bằng giấy tờ, thay vì bằng những con số kV không rõ nguồn thường thấy trong mô tả bán hàng.

Bốn Dòng Ủng Cách Điện Đang Lưu Hành Tại Việt Nam
Nhóm hàng sản xuất trong nước, tiêu biểu là VICADI, chiếm phần lớn lượng dùng ở các đội điện lực địa phương và nhà thầu thi công. Ưu điểm thực tế là sẵn hàng, đủ cỡ chân người Việt và dễ bổ sung khi thiếu giữa chừng. Khi mua nhóm này, việc cần làm là đòi phiếu thử điện của chính lô hàng đang giao, chứ không phải bản sao một phiếu cũ dùng chung cho mọi lô.
Nhóm nhập từ Đông Nam Á, quen thuộc nhất là NOVAX của Malaysia, nằm ở tầm giữa. Đặc điểm nhận dạng là thân ủng đúc liền khối, cổ cao quá bắp chân và màu thân tương phản với màu đế để dễ phân biệt với ủng thường trong kho. Điểm cần hỏi rõ là tài liệu chứng nhận đi kèm thuộc tiêu chuẩn nào và do tổ chức nào cấp.
Nhóm Nhật Bản, đại diện là YOTSUGI, thường đi theo bộ với găng và ủng cùng hãng. Độ hoàn thiện bề mặt và độ đồng đều chiều dày thân ủng là điểm dễ nhận ra khi cầm trên tay. Nhóm này có bảng cỡ riêng theo chuẩn Nhật nên phải thử trước khi đặt số lượng, tránh tình trạng cả lô về rồi mới phát hiện chật mũi.
Nhóm Bắc Mỹ, quen tên nhất là SALISBURY, chủ yếu xuất hiện ở các dự án có yêu cầu hồ sơ chặt hoặc có yếu tố nước ngoài trong chủ đầu tư. Đây là nhóm đắt nhất và cũng khó mua lẻ nhất, thường phải đặt theo lô và chờ hàng về. Bù lại, hồ sơ kỹ thuật đi kèm thường đầy đủ và tra cứu được từ trang hãng.
Một lưu ý chung cho cả bốn nhóm: tên hãng không phải thông số kỹ thuật. Cùng một hãng vẫn có nhiều dòng ở các cấp khác nhau, và có cả dòng ủng thường không cách điện. Thứ quyết định là cấp ghi trên tem dập của từng đôi và phiếu thử đi kèm, không phải logo.
Cấp Điện Áp Theo EN 50321-1
Tiêu chuẩn châu Âu dành cho giày và ủng cách điện là EN 50321-1, bản hiện hành ban hành năm 2018, thay cho bản cũ từ năm 1999. Đây là tài liệu nên dựa vào khi đọc thông số, vì nó quy định hẳn một hệ phân cấp thay vì để mỗi nhà bán tự công bố một con số riêng.
Thang phân cấp ở đây ngắn hơn nhiều người tưởng: đúng hai bậc, gắn với điện áp danh nghĩa tối đa của lưới nơi người mang được phép có mặt. Class 00 dùng đến 500 V xoay chiều, tương ứng 750 V một chiều. Class 0 dùng đến 1.000 V xoay chiều, tương ứng 1.500 V một chiều. Thang dừng ở đó, không có ủng cách điện class 1, 2, 3 hay 4. Bộ sáu bậc chạy từ 500 V lên 36.000 V mà nhiều tờ rơi mượn về gán cho ủng thực ra là thang dùng cho găng (IEC 60903) và thảm (IEC 61111), hai họ sản phẩm hoàn toàn khác.
Quanh thang cấp này có ba điểm hay bị đọc lệch. Thứ nhất, con số gắn với mỗi cấp là điện áp làm việc tối đa, không phải điện áp mà ủng chịu được trong phòng thử. Điện áp thử luôn cao hơn đáng kể, và hai con số này không được dùng lẫn cho nhau. Thứ hai, không có cấp nào mang tên 22 kV, 30 kV hay 36 kV trong hệ phân cấp này. Những con số ấy dập trên thân ủng bán ở thị trường trong nước hầu hết là điện áp thử do nhà sản xuất tự công bố; chúng nói lên phép thử đã chạy, không nói lên cấp theo EN 50321-1.
Thứ ba, hai cấp ấy phủ tới lưới hạ áp, nên công việc trên lưới 0,4 kV đi class 00 hoặc class 0 là hợp lý. Bước lên trạm phân phối 22 kV thì không có đôi ủng nào nâng cấp cho kịp, vì thang cấp đã hết từ 1.000 V. Chỗ dựa ở trạm là quy trình cắt nguồn, phép thử xác nhận hết điện, bộ tiếp địa và găng đúng cấp; đôi ủng lùi về đúng vai của nó là chặn đường dòng từ người xuống đất. Rủi ro thiếu hụt đó không bù lại được bằng một đôi tất dày, cũng không bằng một đôi ủng dày hơn.

Về phía tiêu chuẩn Việt Nam, cần lưu ý một chi tiết hay bị trích dẫn sai. TCVN 5588:1991 mang tên Ủng cách điện, nhưng đã bị thay thế từ năm 2009 và không còn là căn cứ hiện hành. Việc ghi sản phẩm đạt TCVN 5588 trên tờ rơi bán hàng vì vậy không nói lên điều gì, và càng không thay được phiếu thử điện của lô.
Cũng nên cảnh giác với câu đạt chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế mà không kèm số hiệu. Một dòng chữ như vậy có thể viết cho bất kỳ sản phẩm nào. Yêu cầu tối thiểu khi đàm phán là nhà cung cấp ghi rõ số hiệu tiêu chuẩn, cấp sản phẩm và tên đơn vị thử nghiệm vào hợp đồng.
Vì Sao Ủng Cách Điện Không Có Mũi Thép
Một số mô tả sản phẩm quảng cáo ủng cách điện có mũi lót thép chống va đập và đế lót thép chống đinh. Nghe thì giống như cộng thêm tính năng, nhưng thực chất là mâu thuẫn với chức năng chính. Thép là vật dẫn. Đặt một tấm thép vào giữa khối cao su cách điện là tạo một điểm yếu ngay trong lớp bảo vệ.
Nguyên tắc chung của ủng cách điện là hạn chế tối đa chi tiết kim loại, đặc biệt là kim loại xuyên qua chiều dày thân hoặc đế. Cũng vì vậy không có đinh tán, không có khuy kim loại, và đế không cấy đinh chống trơn bằng thép. Nếu công việc vừa cần chống đâm xuyên vừa cần cách điện, giải pháp là xử lý mặt bằng cho sạch đinh và vật sắc, không phải ghép hai tính năng vào một đôi ủng.
Cách kiểm tra tại chỗ khá đơn giản. Đưa nam châm nhỏ rà quanh mũi, quanh gót và dọc đế. Có lực hút rõ tại mũi hoặc giữa đế thì đôi ủng đó có chi tiết thép bên trong, và cần hỏi lại nhà cung cấp trước khi đưa vào sử dụng cho công việc điện. Phép thử này không thay được kiểm định, nhưng đủ để chặn nhầm lẫn ngay tại kho.
Một biến thể khác của cùng lỗi này là câu ủng chống cháy cách điện đến một con số kV nào đó. Chống cháy và cách điện là hai họ tiêu chuẩn khác nhau, thử bằng hai phép khác nhau, và hầu như không đi chung trên một sản phẩm cao su phổ thông. Gặp câu đó thì nên coi toàn bộ mô tả của sản phẩm là không đáng tin.
Cách Điện Khác Chống Tĩnh Điện Ở Điểm Nào
Đây là nhầm lẫn tốn kém nhất trong cả nhóm giày ủng bảo hộ. Hai loại sản phẩm này phục vụ hai mục tiêu ngược chiều nhau, nhưng tên gọi tiếng Việt lại gần nhau đến mức người mua dễ lấy cái này thay cái kia.
Ủng và giày cách điện có điện trở rất cao. Mục tiêu là không cho dòng điện đi qua chân xuống đất. Chúng tuyệt đối không được nối đất, không được ghép thêm chi tiết dẫn điện, và càng không được dùng khi đế đã thủng hay nứt.
Giày và dép chống tĩnh điện thì ngược lại. Điện trở của chúng nằm ở mức trung gian có chủ ý, vừa đủ thấp để xả điện tích tích tụ trên người xuống sàn, vừa đủ cao để không biến người thành dây dẫn. Chúng bắt buộc phải đi cùng sàn hoặc thảm dẫn tĩnh điện đã nối đất thì mới có tác dụng. Đưa loại này vào công việc điện là xóa bỏ lớp bảo vệ cuối cùng.
Có một dấu hiệu nhận biết rất nhanh trên nhãn. Giày bảo hộ ghi cấp S1, S1P, S2, S3 hay cao hơn theo EN ISO 20345 thì đã bao gồm sẵn tính chống tĩnh điện, ký hiệu là chữ A. Đây là yêu cầu bắt buộc của những cấp đó. Ở chiều ngược lại, giày và ủng cách điện theo EN 50321-1 vẫn phải qua bộ tiêu chuẩn giày an toàn EN ISO 20345/20346/20347 ở phần mũi và đế, nhưng chỉ tiêu điện thì đi theo EN 50321-1 và thay chỗ cho chỉ tiêu chống tĩnh điện. Vì vậy một nhãn vừa ghi ký hiệu A chống tĩnh điện vừa ghi class cách điện là nhãn tự chọi nhau; gặp trường hợp đó thì đối chiếu bản công bố hợp chuẩn của lô, đừng đoán theo dòng chữ nào lớn hơn.

Ranh giới giữa hai họ sản phẩm cũng thể hiện ở danh mục hàng. Nhóm cách điện gồm ủng, găng, thảm và sào. Nhóm chống tĩnh điện gồm dép, thảm dẫn, ghế và giày phòng sạch. Hai nhóm này không thay thế cho nhau trong bất kỳ tình huống nào. Bộ đồ đi kèm ủng khi thao tác điện gồm găng tay cách điện đúng cấp và thảm trải sàn cách điện tại vị trí đứng thao tác.
Bảng đối chiếu đầy đủ các ký hiệu cấp giày bảo hộ và ý nghĩa từng chữ có trên tài liệu hướng dẫn đọc cấp theo EN ISO 20345 của nhà sản xuất uvex. Đây là tài liệu tiện tra khi cần đối chiếu nhanh một nhãn giày đang cầm trên tay.
Tem Dập Và Phiếu Kiểm Định Của Lô
Thông tin đáng tin nhất trên một đôi ủng cách điện nằm ở phần tem dập chìm vào cao su, thường ở mặt ngoài cổ ủng hoặc mặt trong gần miệng. Chữ in bằng mực sẽ phai sau vài tháng dùng, chữ dập chìm thì còn. Khi nhận hàng, nên lật xem tem dập của từng đôi chứ không chỉ xem thùng.
- Cấp sản phẩm và số hiệu tiêu chuẩn đi kèm. Chỉ có con số kV trống không thì chưa đủ căn cứ.
- Tháng và năm sản xuất. Cao su lão hóa theo thời gian kể cả khi chưa dùng, nên hàng tồn kho lâu là vấn đề thật.
- Cỡ số và tên nhà sản xuất dập liền khối, không phải nhãn giấy dán thêm.
- Phiếu thử điện của lô, ghi rõ số lô, ngày thử và đơn vị thử. Không nhận bản sao không số lô.
- Hướng dẫn của nhà sản xuất về chu kỳ thử lại và hạn sử dụng tối đa.
Ngoài hồ sơ, mỗi ca làm việc vẫn cần một vòng soi bằng mắt. Người dùng lộn trái cổ ủng, kéo căng nhẹ từng đoạn và tìm vết nứt chân chim, vết rỗ, vết phồng rộp. Sau đó lật đế tìm vết cắt, mảnh thủy tinh hay đinh ghăm. Một vết xuyên nhỏ bằng đầu kim cũng đủ làm mất hiệu lực cách điện của cả đôi.
Ủng dính dầu, xăng hoặc dung môi phải được lau sạch ngay. Cao su ngấm dầu lâu ngày sẽ trương, mềm và giảm điện trở, trong khi bề ngoài gần như không đổi. Cất ủng ở nơi mát, tránh nắng trực tiếp và tránh để cạnh máy phát ôzôn như máy hàn hay động cơ điện, vì ôzôn làm cao su giòn rất nhanh.
Cuối cùng là chuyện sổ sách. Mỗi đôi nên có một mã riêng và gắn với một dòng theo dõi: ngày cấp, người dùng, ngày thử gần nhất, kết quả. Cách quản lý này tốn ít công hơn nhiều so với việc đến kỳ kiểm tra mà không biết đôi nào đã thử, đôi nào chưa.
Chốt Phương Án Theo Điều Kiện Làm Việc
Khi phải chọn giữa bốn nhóm hàng ở trên, thứ tự câu hỏi nên bắt đầu từ điều kiện làm việc chứ không từ thương hiệu. Cấp điện áp nơi đội làm việc là bao nhiêu, một ca đi ủng bao nhiêu giờ, mặt bằng ẩm hay khô, có dầu mỡ không. Bốn câu đó loại bớt phần lớn phương án trước khi bàn đến hãng.

Nếu đội chỉ làm trên lưới hạ áp và cần bổ sung nhanh theo từng đợt, nhóm sản xuất trong nước là lựa chọn hợp lý về vận hành, miễn là ràng buộc được điều khoản phiếu thử theo lô. Nếu công việc chạm tới cấp phân phối trở lên, nên ưu tiên nhóm có hồ sơ tra cứu được từ trang hãng, vì khi có sự cố thì phần truy xuất là thứ quyết định.
Về cỡ số, quy tắc là thử với đúng đôi tất sẽ dùng khi làm việc. Ủng chật làm người dùng bỏ ra giữa ca, còn ủng quá rộng làm gót trượt và sinh phồng rộp, cả hai đều dẫn đến việc thiết bị bảo hộ nằm trong kho thay vì ở trên chân. Khi đặt lô lớn, nên lấy mẫu mỗi cỡ cho người thử thật trước.
Chu kỳ thay hay rơi ra khỏi bảng dự trù. Ủng cách điện không phải tài sản dùng đến khi rách. Nó có hạn thử lại và hạn sử dụng, và phải loại bỏ khi hết hạn dù còn mới. Kế hoạch mua nên tính sẵn phần thay theo chu kỳ, không đợi đến lúc kiểm tra rớt mới đi tìm hàng.
Cuối cùng, ủng chỉ là một mắt trong chuỗi. Quy trình cắt điện, thử hết điện, tiếp địa và trang bị cá nhân phải đi cùng nhau thì mới có tác dụng. Danh sách thiết bị cần có trước khi thao tác được liệt kê ở trang thiết bị an toàn điện, tiện để đối chiếu khi lập dự trù cho cả đội.

Sau khi so sánh bốn dòng trên, bước cuối là kiểm tra tồn kho và size thực tế. Toàn bộ sản phẩm đang có sẵn được liệt kê trong danh mục ủng bảo hộ của Bảo Hộ Xanh.


