Kính Bảo Hộ – Những Điều Cần Biết Khi Sử Dụng

Hầu hết thông tin cần biết về một chiếc kính bảo hộ đã được nhà sản xuất khắc sẵn lên góc mắt kính và lên càng kính, bằng một chuỗi chữ và số rất nhỏ. Người mua thường bỏ qua chuỗi đó và chọn theo cảm giác dày mỏng, rồi ngạc nhiên khi một lô kính vừa cấp đã bị trả lại. Bài viết này đọc từng phần của chuỗi ký hiệu, sau đó chuyển sang phần sử dụng hàng ngày: chỉnh cho vừa, giữ cho không đọng sương, lau cho không hỏng lớp phủ và nhận ra lúc phải thay.

Kính Bảo Hộ Ghi Gì Trên Mắt Kính Và Trên Gọng

Hệ tiêu chuẩn được dùng nhiều nhất trên hàng nhập vào Việt Nam là EN 166 của châu Âu, bên cạnh ANSI Z87.1 của Mỹ trên hàng đi theo kênh Bắc Mỹ. Điểm chung của cả hai là yêu cầu nhà sản xuất khắc trực tiếp lên sản phẩm chứ không in trên bao bì. Nhờ vậy, một chiếc kính đã bóc hộp, đã dùng nửa năm vẫn còn đủ thông tin để kiểm tra.

Mắt kính và gọng mang hai chuỗi ký hiệu khác nhau, và đây là chỗ hay bị hiểu lầm nhất. Chuỗi trên mắt kính nói về bản thân tấm lọc: cấp quang học, sức bền va đập của tấm, các vùng sử dụng và lớp phủ. Chuỗi trên gọng nói về bộ khung: nó giữ được tấm kính trong điều kiện nào, chịu được va đập ở mức nào. Một bộ kính chỉ đạt mức bảo vệ bằng mức thấp hơn trong hai chuỗi.

Thứ tự đọc cũng cố định. Đầu chuỗi luôn là ký hiệu nhận dạng nhà sản xuất, tiếp đến là số hiệu tiêu chuẩn, rồi mới tới các ký hiệu kỹ thuật. Nếu một lô hàng chào là đạt chuẩn nhưng trên mắt kính không khắc gì, hoặc chỉ khắc mỗi tên hãng, thì câu chào đó không kiểm chứng được. Đó cũng là phép thử nhanh nhất khi cầm mẫu trên tay tại cuộc họp chọn nhà cung cấp.

Yêu cầu khắc dấu nhận diện nhà sản xuất không phải quy ước riêng của một hệ tiêu chuẩn. 29 CFR 1910.133 về bảo vệ mắt và mặt cũng buộc mọi phương tiện bảo vệ mắt phải mang dấu phân biệt để truy được nhà sản xuất, và đòi kính phải có che chắn hai bên khi công việc phát sinh vật văng, kể cả khi phần che chắn đó là tấm chắn lắp thêm tháo rời được. Đọc theo hai gạch đầu dòng ấy, một chiếc kính trơn không ký tự và hở toang hai bên thái dương đã bị loại ngay ở vòng cầm mẫu.

Kính bảo hộ gọng liền dùng cho công đoạn gia công cơ khí
Kính Bảo Hộ - Những Điều Cần Biết Khi Sử Dụng 7

Cấp Quang Học Quyết Định Thời Gian Đeo Liên Tục

Ngay sau số hiệu tiêu chuẩn trên mắt kính là một chữ số từ một đến ba, gọi là cấp quang học. Nó không nói về độ cứng mà nói về độ trung thực của hình ảnh nhìn qua tấm kính. Cấp một là mức sát với kính thuộc nhóm quang học, cho phép đeo suốt ca mà mắt không phải điều tiết thêm. Cấp hai và cấp ba chỉ dành cho việc đeo trong thời gian ngắn, vì sai lệch quang học lớn hơn.

Hậu quả của việc chọn nhầm cấp này không xảy ra ngay. Nó hiện ra sau ba bốn giờ dưới dạng nhức đầu vùng trán, mỏi mắt, hoặc cảm giác mất thăng bằng nhẹ khi quay đầu nhanh. Người lao động thường không quy nguyên nhân về chiếc kính mà quy về cường độ công việc, rồi tự tháo kính ra cho dễ chịu. Vì vậy, với mọi vị trí phải đeo cả ca, cấp một là yêu cầu bắt buộc chứ không phải một lựa chọn nâng cấp.

Cấp hai và cấp ba vẫn có chỗ dùng hợp lý: khách tham quan đi một vòng nhà xưởng, đoàn kiểm tra vào vài mươi phút, hoặc tấm che lắp thêm phía ngoài một bộ kính khác. Điều không nên làm là mua một lô duy nhất theo giá rồi cấp cho cả hai nhóm, vì nhóm đeo cả ca sẽ là nhóm chịu thiệt.

Ký Hiệu Va Đập Trên Kính Chia Làm Bốn Mức

Phần được hỏi nhiều nhất khi mua hàng là khả năng chịu va đập, và nó được mã hoá bằng một chữ cái duy nhất. Bốn mức được dùng theo thứ tự tăng dần, mỗi mức ứng với một phép thử bắn viên bi thép vào mặt kính ở tốc độ khác nhau. Biết thứ tự này thì việc ghép kính với công đoạn trở nên rất nhanh.

  • Mức cơ bản nhất là phép thử độ bền tăng cường, ký hiệu bằng chữ S. Đây chỉ là mức chống rơi vỡ thông thường, không dùng cho công việc có mảnh bắn.
  • Chữ F là va đập năng lượng thấp, mức phổ biến nhất trên kính gọng nhẹ, hợp với lắp ráp, kho vận, thao tác tay.
  • Chữ B là va đập năng lượng trung bình, mức thường thấy trên kính kín mắt và trên tấm che mặt, hợp với mài, cắt, đục.
  • Chữ A là va đập năng lượng cao, chỉ xuất hiện trên tấm che mặt vì diện tích và độ dày cần thiết không cho phép làm thành mắt kính nhỏ.

Ký hiệu trên gọng cũng phải khớp với ký hiệu trên tròng: nếu chữ chỉ mức va đập xuất hiện trên mắt kính nhưng không xuất hiện trên gọng, thì bộ kính đó không được coi là đạt mức ấy khi đeo nguyên bộ. Lý do rất thực tế: tấm kính chịu được cú đập nhưng khung giữ nó thì không, và tấm kính văng ra khỏi khung cũng nguy hiểm như tấm kính vỡ. Khi so hai báo giá, hãy yêu cầu ảnh chụp cận cả hai chuỗi ký hiệu.

Kính bảo hộ kín mắt dùng khi thao tác phát sinh nhiều bụi hạt
Kính Bảo Hộ - Những Điều Cần Biết Khi Sử Dụng 8

Con Số Vùng Sử Dụng Cho Biết Kính Chặn Được Gì

Bên cạnh chữ chỉ mức va đập, trên gọng còn có thể xuất hiện một hoặc vài chữ số chỉ vùng sử dụng. Đây là phần có giá trị nhất khi phân bổ kính cho từng phân xưởng, vì nó trả lời trực tiếp câu hỏi mối nguy nào được chặn. Một chiếc kính không mang con số tương ứng thì không nên được cấp cho công đoạn đó, dù nhìn bằng mắt thấy nó cũng kín.

  • Số 3 — nhóm chất lỏng bắn toé, gồm giọt văng và tia phun. Đây là nhóm dành cho pha chế, rửa thiết bị, phòng thí nghiệm.
  • Số 4 — nhóm bụi hạt thô, sinh ra khi mài khô, cắt gạch đá, quay chổi sắt.
  • Số 5 — nhóm khí và bụi mịn, đòi hỏi kính ôm kín toàn bộ hốc mắt chứ không hở hai bên thái dương.
  • Số 8 — nhóm hồ quang điện do ngắn mạch, một nhóm riêng biệt và không thể thay thế bằng kính thông thường.
  • Số 9 — nhóm kim loại nóng chảy và chất rắn nóng, dành cho đúc, rót, xử lý nhiệt.

Hai nhóm cuối cần được tách hẳn ra khi làm bảng cấp phát. Thợ hàn cần tấm lọc tối có cấp độ phù hợp với dòng hàn, nằm trên mặt nạ hàn chứ không phải trên kính trong. Người đứng thao tác có nguy cơ văng mảnh lớn cần tấm kính che mặt toàn phần đeo chồng phía ngoài, vì tấm che bảo vệ cả khuôn mặt nhưng không kín vùng quanh mắt.

Phần so sánh giữa ba kiểu kính hở mắt, kính kín mắt và tấm che toàn mặt được trình bày riêng ở danh mục kính bảo hộ. Ở đây chỉ cần nhớ một nguyên tắc: kiểu dáng quyết định hướng che, còn con số vùng sử dụng quyết định loại mối nguy. Cả hai phải khớp thì chiếc kính mới đúng việc.

Lớp Phủ Chống Trầy Và Lớp Phủ Chống Đọng Sương

Hai lớp phủ này cũng được khắc bằng chữ cái ở cuối chuỗi trên mắt kính, và chúng giải quyết hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Lớp chống trầy nằm ở mặt ngoài, giúp mắt kính không bị xước mờ sau vài tuần tiếp xúc với bụi cứng. Lớp chống đọng sương nằm ở mặt trong, làm hơi nước trải thành màng mỏng thay vì đọng thành hạt li ti gây mờ.

Với nhà xưởng ở Việt Nam, lớp chống đọng sương quan trọng hơn người mua thường nghĩ. Chính lớp này quyết định người thợ có giữ chiếc kính trên mắt hay không trong những tháng ẩm, và khi kính mờ thì phản xạ đầu tiên luôn là kéo kính xuống chứ không phải dừng việc. Một chiếc kính bị kéo xuống cằm thì mức bảo vệ của nó bằng không, bất kể chuỗi ký hiệu ấn tượng đến đâu.

Cần lưu ý rằng lớp chống đọng sương là lớp hoá học mỏng và có tuổi thọ. Nó giảm tác dụng dần theo số lần lau, và mất gần như ngay lập tức nếu bị lau bằng cồn công nghiệp hoặc dung môi tẩy. Vì vậy, khi đặt hàng cho khu vực nóng ẩm, nên hỏi luôn nhà cung cấp về loại khăn và dung dịch đi kèm, thay vì để mỗi tổ tự xử lý bằng thứ có sẵn trong xưởng.

Kính bảo hộ chặn giọt chất lỏng bắn toé khi rửa thiết bị
Kính Bảo Hộ - Những Điều Cần Biết Khi Sử Dụng 9

Chỉnh Kính Vừa Khuôn Mặt Trước Khi Vào Xưởng

Một chiếc kính đạt mọi chỉ tiêu vẫn có thể vô dụng nếu nó nằm sai vị trí trên mặt. Khoảng hở giữa mép trên mắt kính và chân mày là đường đi ưa thích của mảnh văng từ trên xuống, còn khoảng hở hai bên thái dương là đường đi của mảnh bật lại từ bề mặt gia công. Cả hai khoảng hở này đều thu hẹp được bằng thao tác chỉnh, không cần đổi sản phẩm.

  1. Đẹp kính lên mặt ở tư thế nhìn thẳng, rồi đẩy nhẹ về phía sống mũi cho tới khi mép trên mắt kính gần sát chân mày mà chưa chạm trán.
  2. Chỉnh chiều dài càng, nếu mẫu kính cho phép, sao cho đuôi càng ôm sau vành tai chứ không đè lên đỉnh vành tai.
  3. Chỉnh góc ngửa của mắt kính để tầm nhìn xuống bàn máy không bị cắt bởi mép dưới.
  4. Cúi đầu về phía trước khoảng bốn mươi lăm độ và lắc nhẹ hai lần. Kính không được trượt xuống.
  5. Với người đang đeo kính cận, kiểm xem bộ kính bảo hộ đeo chồng có đẩy gọng cận lên hay không; nếu có, nên chuyển sang mẫu được thiết kế để đeo chồng.

Trong nhóm trang bị bảo hộ mắt và mặt, kính là món có độ vừa vặn biến thiên lớn nhất giữa người này với người khác. Vì vậy, cách làm hiệu quả hơn việc mua thật nhiều một mã là giữ hai tới ba mẫu có cùng mức bảo vệ nhưng khác dáng, rồi cho người lao động thử tại chỗ và chọn. Chi phí tăng không đáng kể, còn tỷ lệ đeo thực tế tăng rõ.

Kính bảo hộ gắn lên mũ cứng dùng cho người thao tác ngoài hiện trường
Kính Bảo Hộ - Những Điều Cần Biết Khi Sử Dụng 10

Lau Rửa Sao Cho Không Phá Mất Lớp Phủ

Sai lầm phổ biến nhất là lau kính khi trên mặt kính còn bụi khô. Hạt bụi bị kéo lê trên bề mặt và tạo thành những đường xước hình vòng cung, chính là những đường gây chói khi có đèn chiếu ngang. Trình tự đúng là xả nước sạch cho trôi hết hạt rắn trước, sau đó mới thấm khô bằng khăn mềm, và thấm theo một chiều chứ không chà tròn.

Những thứ không nên dùng gồm giếy ăn, giếy vệ sinh, vạt áo bảo hộ, khăn lau máy, cồn công nghiệp, xăng thơm và nước rửa kính xe. Các sợi xen-lu-lô trong giấy cứng hơn lớp phủ, còn dung môi thì hoà tan lớp phủ. Một chiếc kính bị lau bằng dung môi vài lần sẽ mờ đều và không bao giờ trong lại, dù nhìn qua ảnh vẫn thấy nguyên vẹn.

Với kính dùng chung theo vị trí thay vì cấp riêng theo người, phần đệm mũi và đuôi càng cần được làm sạch sau mỗi ca. Đây là hai điểm tiếp xúc da lâu nhất và cũng là hai điểm gây kích ứng nhiều nhất. Nếu đơn vị không bố trí được chỗ rửa và chỗ cất riêng cho từng người, nên chuyển hẳn sang cách cấp kính theo tên người, vì chi phí chênh lệch nhỏ hơn chi phí xử lý một đợt viêm da mặt ở nhiều người.

Lúc Nào Chiếc Kính Phải Rời Khỏi Xưởng

Kính bảo hộ không có niên hạn cố định như một số trang bị khác, nên việc thay phụ thuộc vào tình trạng thực tế. Những dấu hiệu dưới đây đều nhìn thấy hoặc sờ thấy trong vòng vài giây, nên hoàn toàn đưa vào được buổi kiểm tra đầu ca của tổ trưởng.

  • Mặt kính xước tới mức nhìn qua thấy nhoè, hoặc có vết rỗ do hạt nóng bắn vào. Vết rỗ là điểm yếu sẽ vỡ trước tiên khi có va đập.
  • Mắt kính đổi sắc hoặc ngả vàng đều, dấu hiệu vật liệu đã lão hoá vì tia cực tím hoặc nhiệt.
  • Càng kính mất độ đàn hồi, không còn ép nhẹ vào thái dương, khiến kính tự trượt xuống.
  • Khớp nối giữa càng và khung lỏng, phát ra tiếng lục cục khi cầm lắc.
  • Đệm mũi rách, cứng lại hoặc đã rụng mất một bên.
  • Dây đeo sau gáy giãn, không còn giữ được kính kín mắt áp vào mặt.
  • Chuỗi ký hiệu đã mòn tới mức không đọc được, khiến không còn căn cứ xác định mức bảo vệ.

Một trường hợp riêng cần nhắc: bất kỳ chiếc kính nào đã hứng một cú va đập mạnh đều phải bỏ, kể cả khi nhìn bên ngoài không thấy gì. Vật liệu polycarbonate hấp thụ năng lượng bằng cách biến dạng ở cấp vi mô, và vùng đã biến dạng không còn giữ nguyên khả năng chịu lực cho lần sau. Chiếc kính đó đã làm xong việc của nó, và giữ lại nó là giữ một rủi ro ẩn.

Kính bảo hộ hở mắt kiểu gọng nhẹ dùng cho công đoạn lắp ráp
Kính Bảo Hộ - Những Điều Cần Biết Khi Sử Dụng 11

Gộp lại, một quy trình gọn cho doanh nghiệp chỉ gồm bốn bước: đọc chuỗi ký hiệu lúc nhận hàng, ghép con số vùng sử dụng với từng công đoạn, cho người lao động thử và chỉnh cho vừa, rồi định kỳ soát tình trạng để thay đúng lúc. Bốn bước này không làm tăng ngân sách, nhưng chúng biến một khoản đã chi thành một lớp bảo vệ thật sự đứng giữa mắt người thợ và những thứ đang bay trong xưởng.