Đặt may mũ kepi cho cả một đơn vị là công việc khác hẳn mua lẻ vài chiếc. Nó liên quan tới bảng cỡ vòng đầu, mẫu đối được duyệt, cách thể hiện phù hiệu, hồ sơ bàn giao và định mức thay mới hằng năm. Làm sót một khâu thì lô hàng về tới nơi mới phát hiện, lúc đó sửa rất tốn.
Bài viết đi theo đúng trình tự một đơn hàng đồng phục: đo và quy đổi cỡ, duyệt mẫu, chốt cách làm phù hiệu, nhận bàn giao, rồi tới quản lý mũ trong suốt vòng sử dụng.
Đo Vòng Đầu Và Quy Đổi Cỡ Mũ Kepi Cho Cả Đơn Vị
Số đo cần lấy là chu vi vòng đầu, đo bằng thước dây mềm vòng qua điểm cao nhất của trán, phía trên vành tai và qua chỗ nhô ra ở phía sau gáy. Thước phải nằm ngang, ôm sát nhưng không siết. Người đo nên là một người duy nhất cho cả đơn vị, vì hai người khác nhau đặt thước lệch vài milimet là ra cỡ khác nhau.
Cỡ mũ kepi thường ghi trực tiếp bằng số đo vòng đầu tính theo xentimet, không dùng ký hiệu chữ như quần áo. Mỗi xưởng lại có bước nhảy cỡ riêng, nên phải lấy bảng cỡ của chính xưởng sẽ nhận đơn thay vì áp bảng chung tìm trên mạng. Với người có số đo nằm giữa hai cỡ, quy tắc thực dụng là chọn cỡ lớn hơn vì mũ rộng còn chèn được đệm lót, mũ chật thì không cứu được.
Sau khi có số đo từng người, việc tiếp theo là dựng phân bố cỡ cho toàn đơn vị và cộng thêm phần dự phòng ở các cỡ giữa. Người mới vào trong năm gần như luôn rơi vào nhóm cỡ phổ biến, nên dự phòng tập trung ở đó sẽ dùng được, còn dự phòng rải đều khắp các cỡ thì tồn kho lâu.
Nhiều người trực đội tóc dài buộc cao hoặc đội mũ chồng lên khăn trùm. Cần hỏi trước và ghi chú riêng cho các trường hợp này, vì họ cần cỡ lớn hơn số đo trần của vòng đầu.

Duyệt Mẫu Đối Trước Khi Đặt May Mũ Kepi Hàng Loạt
Mẫu đối là một chiếc mũ hoàn chỉnh do xưởng làm trước, dùng làm chuẩn để so cả lô. Chỉ khi cầm được chiếc mũ thật, người duyệt mới đánh giá được độ dựng của thân mũ, độ cong của lưỡi trai và màu vải dưới ánh sáng thật. Ảnh chụp và bản vẽ không thay thế được bước này.
Khi duyệt, nên kiểm theo một danh sách cố định thay vì nhìn cảm tính: màu vải so với mẫu vải đã chọn, chiều cao thân mũ, chiều rộng vành đai chân mũ, độ cứng của lớp lót, chất liệu và độ mềm của băng thấm mồ hôi, độ đều của đường may quanh chân mũ, và cách gắn quai trang trí.
Điểm cần thử bằng tay là mối nối giữa lưỡi trai và thân mũ. Cầm mũ lên bằng lưỡi trai và lắc nhẹ vài lần, đó chính là thao tác người dùng làm hằng ngày. Nếu mối nối đã có cảm giác lỏng ngay trên mẫu mới, cả lô sẽ bung ở đúng chỗ đó sau vài tháng.
Sau khi thống nhất, nên giữ lại mẫu đối đã ký xác nhận ở cả hai bên, mỗi bên một chiếc. Đây là căn cứ duy nhất có sức nặng khi lô hàng về mà có tranh cãi về màu hoặc kích thước, và cũng là chuẩn để đặt bổ sung sau này khỏi lệch so với đợt đầu. Cách làm này áp dụng chung cho cả bộ, gồm cả phần áo trong nhóm đồng phục bảo vệ trọn bộ.
Thêu, Ép Nhiệt Hay Phù Hiệu Kim Loại: Chọn Theo Tần Suất Giặt
Thêu trực tiếp lên vải mũ cho độ bền cao nhất vì hình được tạo bằng chỉ, không có lớp phủ để bong. Nhược điểm là chỉ thể hiện tốt các hình khối rõ ràng; logo có chữ nhỏ hoặc chuyển sắc mảnh sẽ bị rối khi thu về kích thước vừa vành đai mũ. Thêu cũng làm vùng vải đó dày và cứng hơn.
Thêu trên miếng đế rời rồi may lên mũ là cách dung hoà. Miếng đế cho phép làm đường viền sắc nét, và khi cần thay logo thì tháo miếng đế ra thay chiếc mới, không phải bỏ cả mũ. Đơn vị hay đổi nhận diện thương hiệu nên cân nhắc phương án này.
Phù hiệu kim loại dập cho vẻ trang trọng nhất và thể hiện được chi tiết mảnh, thường dùng ở mũ nghi lễ. Đổi lại, nó nặng hơn, cần chốt gài hoặc đế nhựa phía sau, và cạnh kim loại có thể cọ rách vải nếu mũ bị dồn ép trong túi. Loại này không hợp với người trực ngoài trời cả ngày trong môi trường ẩm mặn.
In lụa hoặc ép nhiệt rẻ và nhanh nhất, nhưng lớp mực nằm trên bề mặt vải nên sẽ nứt và bong dần theo số lần giặt cùng thời gian phơi nắng. Phương án này chỉ nên dùng cho mũ phục vụ sự kiện ngắn ngày, không dùng cho mũ trực hằng ngày. Nguyên tắc chọn cũng giống khi làm logo trên nhóm mũ nón đồng phục in logo: tần suất giặt càng cao thì càng phải nghiêng về thêu.

Hồ Sơ Cần Có Khi Nhận Bàn Giao Lô Mũ
Biên bản giao nhận nên ghi rõ số lượng theo từng cỡ chứ không chỉ ghi tổng. Đây là chỗ hay lệch nhất, vì xưởng thiếu cỡ này thường bù bằng cỡ khác cho đủ số, và nếu chỉ đếm tổng thì bên nhận ký xong mới phát hiện.
Cách kiểm nhanh mà vẫn chắc là mở ngẫu nhiên vài chiếc ở mỗi cỡ, so với mẫu đối đã ký. So màu dưới ánh sáng ban ngày thay vì đèn kho, vì đèn vàng làm lệch cảm nhận màu rất mạnh. Đo lại vòng trong của mũ bằng thước dây để xác nhận cỡ ghi trên nhãn là cỡ thật.
Phần phù hiệu cần kiểm riêng: đúng mẫu logo mới nhất, đặt đúng vị trí và cùng độ cao trên tất cả các chiếc. Phù hiệu lệch vài milimet giữa các mũ không ai để ý khi cầm từng chiếc, nhưng nhìn cả hàng người đứng cạnh nhau thì lộ ngay.
Hồ sơ nên lưu kèm mẫu vải thừa của lô và thông tin liên hệ của xưởng, để đợt đặt bổ sung sau đối chiếu được. Nếu đơn vị đặt cùng lúc cả áo và quần thì lưu chung một bộ hồ sơ cho toàn bộ đồng phục bảo hộ lao động, tránh tình trạng mũ tra được nguồn gốc còn áo thì không.
Định Mức Cấp Phát Và Thời Điểm Thay Mũ Mới
Định mức phổ biến ở các đơn vị có ca trực liên tục là mỗi người một chiếc dùng thường xuyên, cộng thêm một chiếc dự phòng dùng chung theo tổ khi mũ chính đang giặt hoặc bị hỏng đột xuất. Con số cụ thể do quy chế nội bộ quyết định, nhưng nguyên tắc là không để ai phải trực mà không có mũ.
Định mức cấp phát và danh mục PPE là hai sổ khác nhau: chiếc mũ kepi không nằm trong nhóm phương tiện bảo vệ cá nhân. Tài liệu của EU-OSHA về quần áo bảo vệ trước mối nguy nhiệt định nghĩa PPE theo hướng loại trừ hẳn quần áo làm việc thông thường và đồng phục không được thiết kế riêng để bảo vệ an toàn hay sức khoẻ. Kepi thuộc đúng nhóm bị loại trừ đó, nên chi phí của nó nên hạch toán vào khoản đồng phục thay vì rút từ định mức trang bị bảo hộ, và cũng không bị ràng buộc bởi chu kỳ kiểm định như mũ vỏ cứng. Tách hai dòng ngân sách ngay từ đầu giúp đợt kiểm kê cuối quý khỏi phải đối chiếu chiếc mũ vải với hồ sơ thử nghiệm mà nó vốn không có.
Ranh giới ấy nhìn thấy được ngay ở mặt trong chiếc mũ. Theo ANSI/ISEA Z89.1, mũ bảo hộ vỏ cứng phải mang sẵn bốn thông tin đúc chìm ở mặt trong vỏ: tên hoặc dấu hiệu của nhà sản xuất, số hiệu tiêu chuẩn áp dụng, ký hiệu Type kèm Class, và dải cỡ đầu. Ký hiệu Class nói thẳng mức thử điện: Class G thử ở 2.200 V, Class E thử ở 20.000 V, còn Class C không mang giá trị bảo vệ điện nào. Lật mặt trong một chiếc kepi sẽ không thấy dòng nào trong bốn dòng đó, và đây là cách nhanh nhất để người giữ kho phân định hai loại mũ trong cùng một đợt kiểm kê.
Căn cứ thay mới nên dựa vào tình trạng thay vì mốc thời gian cứng. Mũ cần thay khi thân mũ đã xẹp không giữ được form, vải bạc màu lệch rõ so với mũ cùng đợt, băng thấm mồ hôi mục hoặc bốc mùi không xử lý được, lưỡi trai gãy gập, hoặc phù hiệu bong không gắn lại được.
Ở mũ vỏ cứng, tuổi của chiếc mũ đọc được ngay trên vỏ: mặt trong có một tem đúc chìm hình mặt đồng hồ, mũi tên chỉ vào tháng và hai chữ số ở giữa là năm sản xuất. Mũ kepi không mang tem đó, nên ngày cấp ghi tay bằng bút không phai lên nhãn trong là dữ liệu duy nhất cho biết chiếc mũ đã đi cùng người trực bao lâu. Bỏ bước ghi ngày thì cả đợt kiểm kê chỉ còn dựa vào trí nhớ của người giữ kho, và mũ cũ lẫn mũ mới nằm chung một giá.
Cách quản lý gọn là ghi ngày cấp lên nhãn bên trong mũ bằng bút không phai, và gộp đợt kiểm mũ vào một mốc đã có sẵn trong lịch của đơn vị, ví dụ đợt kiểm kê trang phục cuối quý. Người phụ trách chỉ cần cầm một chiếc mũ mới làm chuẩn để so đối chiếu.
Với người nghỉ việc, mũ thu hồi nên tách riêng chứ không nhập thẳng vào kho cấp phát. Mũ đã dùng cần giặt và kiểm tra trước khi cấp lại, và nếu phù hiệu ghi tên riêng thì phải tháo bỏ. Nhiều đơn vị chọn cách chỉ tái sử dụng phần mũ còn tốt cho mục đích dự phòng theo tổ, không cấp lại làm mũ chính cho người mới.

Bảo Quản Mũ Kepi Giữa Các Ca Trực Và Mùa Mưa
Thứ giết form mũ nhanh nhất là để mũ bị đè. Vứt mũ vào ngăn tủ rồi chất đồ lên trên, hoặc nhét vào ba lô cùng đồ nặng, đều làm mặt chóp lõm và thân mũ gãy nếp. Cách cất đúng là úp mũ lên giá hoặc treo bằng móc, chừa khoảng trống phía trên.
Mũ dính mưa cần được làm khô đúng cách. Lau nước đọng bằng khăn khô, nhồi giấy hoặc khăn vào lòng mũ để giữ form, rồi để chỗ thoáng gió. Không hong bằng máy sấy nóng và không phơi thẳng nắng gắt, vì nhiệt cao làm lớp lót cứng bên trong co lại và thân mũ méo vĩnh viễn.
Việc làm sạch nên tách hai phần. Băng thấm mồ hôi là chỗ bẩn nhất, có thể lau bằng khăn ẩm với nước xà phòng loãng rồi lau lại bằng khăn sạch. Phần vải ngoài chỉ nên chải bụi và xử lý vết bẩn cục bộ; giặt máy cả chiếc mũ gần như chắc chắn làm hỏng form và bong lớp lót.
Trong mùa mưa kéo dài, đơn vị nên tăng số mũ dự phòng theo tổ để người trực luôn có chiếc khô mà đội. Với nhóm làm việc ngoài trời nhiều giờ dưới nắng, một số đơn vị bố trí thêm mũ tai bèo vành rộng che nắng cho phần công việc không đòi hỏi nghi thức, giữ mũ kepi cho ca gác cổng và các buổi tiếp khách.



