Trong mùa mưa, phần quyết định của một đôi ủng không phải thân ủng mà là mặt đế. Thân ủng giữ chân khô, đế ủng giữ người không ngã. Hai việc đó được giải quyết bằng những thiết kế hoàn toàn khác nhau, và hầu hết người mua chỉ nhìn vào việc thứ nhất.
Bài này đi sâu vào khả năng chống trơn trượt: độ bám sinh ra từ đâu, đo bằng cách nào tại chỗ, và mất đi vì lý do gì. Một nhánh khác của cùng dòng sản phẩm là ủng cao su dẻo bền.

Ủng Cao Su Chống Trơn Trượt Bám Đường Nhờ Đâu
Độ bám là kết quả của ba yếu tố cộng lại, không phải của riêng hoa đế. Yếu tố thứ nhất là bản thân hợp chất cao su. Cao su mềm biến dạng theo bề mặt nhiều hơn nên bám tốt hơn, nhưng cũng mòn nhanh hơn. Cao su cứng bền hơn nhưng trơn hơn trên nền ướt. Mỗi nhà sản xuất chọn một điểm cân bằng khác nhau, và đó là khác biệt thực sự giữa hai đôi ủng nhìn giống hệt nhau.
Yếu tố thứ hai là khả năng đuổi nước ra khỏi vùng tiếp xúc. Mặt đường ướt làm trơn không phải vì nước trơn, mà vì màng nước mỏng xen vào giữa cao su và mặt nền, không cho hai bề mặt chạm nhau. Nhiệm vụ của các rãnh là dẫn màng nước đó thoát ra rìa đế trong tích tắc bước chân đặt xuống.
Yếu tố thứ ba là số cạnh sắc của hoa đế. Mỗi cạnh là một lưỡi gạt, vừa cắt qua màng nước vừa móc vào các gờ nhỏ trên nền. Đế càng nhiều cạnh hướng theo nhiều chiều thì càng bám đều khi người đi đổi hướng. Đế mai rùa mòn nhẵn là đế đã mất hết cạnh, dù chiều dày cao su còn nhiều.
Ba yếu tố này đối kháng nhau một phần. Rãnh sâu và rộng thoát nước tốt nhưng làm giảm diện tích cao su chạm đất. Cao su mềm bám tốt nhưng mòn nhanh, khiến cạnh sắc biến mất sớm. Vì vậy không có đế nào tốt nhất cho mọi mặt nền, chỉ có đế hợp với mặt nền cụ thể mà đội đang đứng trên đó.
Mặt Đế Nói Gì Về Khả Năng Bám
Nhìn một mặt đế, có ba kiểu hoa văn hay gặp. Kiểu vạch ngang song song, giống bậc thang, cho độ bám tốt theo chiều tiến lùi nhưng yếu khi trượt ngang. Kiểu này hợp với người đi lại trên lối thẳng, lên xuống dốc nhẹ.
Kiểu ô vuông hoặc mắt lưới tạo cạnh theo hai chiều vuông góc, bám đều hơn khi người đi xoay người, quay gót hay bước ngang. Đây là kiểu phổ thông nhất cho công việc đứng một chỗ và xoay trở nhiều, chẳng hạn sơ chế thủy sản hay rửa thiết bị.
Kiểu vấu lớn, rãnh sâu và thưa, là đế dành cho bùn. Ở đây mục tiêu không phải đuổi nước mà là cắm vấu vào lớp đất mềm, đồng thời nhả được bùn bám ra sau mỗi bước. Rãnh thưa giúp bùn rơi tự do; rãnh dày và nông sẽ bị bùn lấp đầy, biến đế thành một mặt phẳng trơn.

Hướng rãnh quan trọng không kém độ sâu. Rãnh phải thông ra rìa đế thì nước mới thoát được. Nhiều mẫu đế trông rất dữ dội nhưng các hốc đều kín xung quanh, tạo thành những cái cốc giữ nước. Khi đặt chân xuống, nước trong hốc không đi đâu được và vẫn nằm giữa cao su với nền.
Diện tích tiếp xúc thực là phần cao su còn chạm đất sau khi trừ hết rãnh. Đế quá nhiều rãnh làm diện tích này nhỏ đi, áp suất lên từng vấu tăng, và vấu mòn rất nhanh. Trong công việc đứng nhiều trên nền bê tông ướt, một mẫu đế cân bằng thường bền hơn một mẫu đế địa hình nhiều vấu.
Sàn Ướt, Sàn Dầu Và Bùn Đòi Ba Kiểu Đế
Ba mặt nền này hay bị gộp chung thành trơn trượt, nhưng cơ chế trơn của chúng khác hẳn nhau và đòi ba cách xử lý khác nhau.
Sàn Ướt Sạch Cần Nhiều Cạnh Nhỏ Và Rãnh Thông Ra Rìa
Sàn ướt sạch, kiểu nền gạch hoặc bê tông đánh bóng dính nước mưa, chỉ cần đế có nhiều cạnh nhỏ và rãnh thông ra rìa. Đế mắt lưới dày cạnh làm tốt việc này. Ngược lại, đế vấu lớn kiểu đi rừng lại kém vì chỉ vài điểm cao su chạm nền cứng.
Sàn Dính Dầu Mỡ Phải Có Hợp Chất Đế Kháng Dầu
Sàn dính dầu mỡ là trường hợp khó nhất. Dầu không bị đuổi đi như nước, nó bám lại và còn làm trương hợp chất cao su thường. Phải dùng loại đế có ghi kháng dầu, và rãnh nên dạng nhiều làn sóng nhỏ để xé màng dầu. Trong khu vực này, lịch vệ sinh nền còn quan trọng hơn cả việc chọn ủng.

Nền Bùn Đất Cần Vấu Cao, Thưa Và Nhả Được Bùn
Nền bùn đất cần logic ngược lại. Không phải bám vào bề mặt mà là cắm xuống lớp đất chắc bên dưới. Vấu phải cao, thưa và có cạnh dốc để nhả bùn. Đế ở nhóm này thường dày và nặng hơn, đổi lại người đi mất sức hơn khi đi đường dài trên nền cứng.
Thực tế, nhiều đội phải đi qua cả ba loại nền trong một ca. Lúc đó cách hợp lý là chọn theo mặt nền nguy hiểm nhất chứ không phải mặt nền gặp nhiều nhất. Các dòng ủng cao su theo từng kiểu đế được xếp ở danh mục ủng bảo hộ công nghiệp.
Thử Đế Tại Chỗ Trước Khi Nhận Lô Hàng
Không phải đơn vị nào cũng đủ điều kiện gửi mẫu đi thử ở phòng thí nghiệm. Bù lại, có vài phép thử thô sơ làm ngay tại kho, đủ để loại những đôi kém rõ rệt trước khi ký nhận.
- Miết ngón tay cái trên mặt đế khô. Cao su tốt cho cảm giác hơi dính và kéo nhẹ da tay. Đế trơn láng như nhựa là dấu hiệu pha nhiều chất độn.
- Đổ một gáo nước lên nền gạch, đặt ủng xuống rồi đẩy nghiêng bằng tay. Cảm nhận điểm bắt đầu trượt, so giữa hai mẫu đặt cạnh nhau.
- Lật đế soi ngược sáng xem rãnh có thông ra rìa hay bị bịt kín thành hốc chứa nước.
- Ấn móng tay vào vấu đế. Vấu quá cứng không lún là cao su cứng, sẽ trơn trên nền ướt.
- Bẻ gập thân ủng ở chỗ cổ chân vài chục lần, xem có xuất hiện vết trắng rạn hay không.
Phép thử đẩy nghiêng cho kết quả tương đối chứ không phải số đo. Điều đó vẫn hữu ích, vì việc cần làm khi nhận hàng là so hai mẫu với nhau chứ không phải công bố một con số. Quan trọng là thử trên đúng loại nền mà đội sẽ đi, kèm đúng loại chất lỏng hay gặp.
Phép đẩy nghiêng làm tại kho có một bản chính quy ở phòng thí nghiệm, và kết quả của nó được dập thành ba mã trên đế: SRA thử trên gạch men ướt dung dịch xà phòng loãng, SRB thử trên thép nhẵn có glycerol, SRC là đạt cả hai. Hướng dẫn mua giày dép chống trơn trượt của HSE Anh nói thêm hai điều đáng ghi vào hợp đồng: hệ số ma sát là số nhà cung cấp có nghĩa vụ đưa ra khi được hỏi, còn dòng chữ “chống dầu” chỉ nói đế không bị dầu ăn mòn và im lặng hoàn toàn về độ bám. Cùng tài liệu đó khuyên mượn mẫu cho công nhân đi thử đủ lâu trên chính mặt nền của xưởng, đúng như phép thử tại chỗ vừa mô tả.
Nếu hợp đồng cho phép, nên yêu cầu nhà cung cấp ghi rõ hợp chất đế có kháng dầu hay không, và giữ lại một đôi mẫu niêm phong để đối chiếu với các lô sau. Chuyện lô sau khác lô trước là tình huống rất hay gặp với hàng cao su, và không phát hiện được nếu không có mẫu để so.
Đế Mòn Đến Mức Nào Thì Hết Chống Trơn Trượt
Đây là câu hỏi ít được đặt ra nhưng lại gây ra phần lớn tai nạn trượt ngã. Một đôi ủng còn nguyên thân, không thủng, vẫn được coi là dùng tốt trong khi đế đã nhẵn từ lâu. Người dùng chỉ đánh giá ủng qua việc nó có vào nước hay không.
Mốc kiểm tra đơn giản là chiều sâu rãnh còn lại so với ban đầu. Khi rãnh chỉ còn khoảng một phần ba độ sâu gốc, khả năng thoát nước giảm rất nhanh. Cách đo thực dụng là giữ một đôi mới cùng loại trong kho làm chuẩn, đặt cạnh đôi đang dùng để so trực tiếp.
Mòn Lệch Mé Ngoài Gót Nguy Hiểm Hơn Mòn Đều
Mòn không đều cũng nguy hiểm như mòn sâu. Nhiều người mòn lệch về mé ngoài gót. Khi mảng gót đã vát đi, điểm chạm đất đầu tiên của mỗi bước là một góc nhẵn, và đó đúng là khoảnh khắc dễ trượt nhất. Đôi ủng như vậy phải thay dù phần giữa đế vẫn còn hoa văn rõ.

Ngoài mòn cơ học, cao su còn già đi theo thời gian. Bề mặt xuất hiện mạng rạn chân chim nhỏ, sờ thấy khô và cứng hơn hẳn lúc mới. Cao su già mất độ đàn hồi nên bám kém, kể cả khi hoa đế còn sâu. Ủng để lâu trong kho chưa dùng cũng rơi vào tình trạng này.
Trong trường hợp môi trường đòi thêm mũi và đế chống đâm xuyên, hoặc đòi cổ cao quá đầu gối, nên chuyển sang nhóm chuyên dụng thay vì cố dùng ủng phổ thông. Các lựa chọn theo môi trường được sắp xếp ở trang giày ủng bảo vệ bàn chân, còn dòng mũi và đế thép sản xuất trong nước nằm ở ủng Thùy Dương.
Trơn Trượt Còn Đến Từ Chỗ Đứng, Không Chỉ Từ Đôi Ủng
Một đôi ủng tốt vẫn ngã nếu mặt nền không được xử lý. Trong phần lớn vụ trượt ngã ở xưởng, nguyên nhân gốc nằm ở lớp màng trên sàn chứ không ở giày dép: nước rò từ đường ống, dầu chảy từ máy, bột nguyên liệu rơi vãi, hoặc rêu bám ở khu vực ít nắng. Đổi ủng mà không xử lý nền chỉ đẩy vấn đề sang chỗ khác.
Mặt nền có thể đo được bằng số chứ không chỉ cảm nhận bằng chân. Cơ quan an toàn lao động Anh dùng hai phép đo cho sàn: con lắc đo hệ số ma sát, cho ra trị số PTV, và máy đo độ nhám vi mô bề mặt, cho ra trị số Rz tính bằng micromet. Cách đọc kết quả rất gọn — PTV từ 0 tới 24 là nguy cơ trượt cao, 25 tới 35 là trung bình, từ 36 trở lên mới là thấp; còn với khu vực ướt nước, Rz dưới 10 µm là nguy cơ cao, 10 tới 20 µm là trung bình, trên 20 µm là thấp. Hai con số này đo được ngay trên sàn đang dùng, nên khi tổ báo một điểm hay trượt thì có cách chứng minh bằng số thay vì tranh luận.
Việc nên làm trước tiên là đi một vòng và đánh dấu những điểm hay trơn. Thường chỉ có vài điểm cố định: chỗ vòi nước, chỗ máy rò dầu, lối ra vào khi trời mưa, và đoạn dốc nối giữa hai khu. Xử lý bốn điểm đó bằng thảm chống trượt, rãnh thoát nước hoặc lịch lau khô định kỳ cho hiệu quả lớn hơn nhiều so với đổi toàn bộ số ủng.
Yếu tố thứ hai là tốc độ và tư thế đi. Người bước dài, đặt gót mạnh sẽ trượt sớm hơn người bước ngắn và đặt cả bàn chân. Trên nền ướt, cách đi đúng là bước ngắn, đặt bàn chân phẳng và giữ trọng tâm nằm trên chân trụ. Đây là nội dung nên đưa vào buổi hướng dẫn đầu ca cho người mới, vì nó không tốn chi phí nào.
Yếu tố thứ ba là ánh sáng. Người không nhìn thấy vũng nước thì không điều chỉnh được cách bước. Nhiều điểm trượt ngã tập trung ở góc khuất, gầm cầu thang và khu vực chỉ có đèn từ một phía. Bổ sung đèn ở những chỗ đó thường rẻ hơn và hiệu quả hơn việc nâng cấp đế ủng.
Một hồ sơ vụ việc của chính cơ quan đó cho thấy giới hạn của mọi biện pháp đến sau. Bếp một quán ăn thay lớp phủ sàn mới, nhân viên phản ánh trơn hơn hẳn lớp cũ; phòng thí nghiệm đo bằng con lắc và máy đo độ nhám, kết quả tạm được khi khô nhưng không đạt khi ướt. Quán thử đổi cách lau, không cải thiện; cải thiện hút mùi để bớt bám dầu cũng không tác động gì tới độ trượt. Cuối cùng phải bóc lớp phủ và thay bằng vật liệu epoxy có hạt chống trượt rồi đo lại sau khi thi công. Bài học nằm ở chỗ dữ liệu chống trượt phải nằm trong khâu đặc tả vật liệu sàn, vì khi sàn đã lát rồi thì lau kiểu gì cũng không đổi được bản chất.
Cũng vì vậy, ký hiệu R in trên catalogue sàn công nghiệp cần đọc thận trọng. Thang R chạy từ R9 tới R13 theo một tiêu chuẩn quốc gia của Đức, thử bằng cách cho người đi trên mặt phẳng nghiêng dần với dầu máy làm chất bẩn. Cơ quan an toàn lao động Anh lưu ý rằng sàn xếp R9 và trong nhiều trường hợp cả R10 vẫn trơn khi ướt hoặc dính mỡ, và riêng nhóm R10 đã phủ một dải hệ số ma sát rất rộng nên hai mặt sàn cùng ghi R10 có thể trượt khác hẳn nhau. Mua sàn theo chữ R mà không hỏi trị số đo trên mặt sàn đã hoàn thiện là mua theo nhãn.
Yếu tố cuối là thứ người lao động mang trên tay. Ôm thùng hàng che tầm nhìn xuống chân, hoặc bưng chậu nước bằng cả hai tay, làm mất khả năng lấy lại thăng bằng khi chân bắt đầu trượt. Chia nhỏ tải, dùng xe đẩy và giữ một tay tự do là những thay đổi nhỏ nhưng đổi được kết quả rõ rệt trong mùa mưa.
Vệ Sinh Sai Cách Làm Mất Độ Bám
Một số thói quen vệ sinh tưởng là giữ gìn lại phá hỏng đúng cái phần quan trọng nhất. Phổ biến nhất là bôi dầu bóng hoặc xịt chất làm bóng lên toàn bộ đôi ủng, kể cả mặt đế. Lớp bóng đó là một màng trơn phủ lên cao su, và nó tồn tại đủ lâu để gây ra vài cú ngã ở những bước đầu tiên.
Thói quen thứ hai là dùng chất tẩy mạnh hoặc xăng để đánh vết bẩn cứng đầu. Dung môi làm trương bề mặt cao su, sấy khô xong thì lớp ngoài trở nên cứng và dễ rạn. Cách đúng là nước ấm với xà phòng nhẹ và bàn chải mềm, chi phí gần như bằng không nhưng giữ được hiệu năng đế.
Thói quen thứ ba là phơi nắng gắt cho nhanh khô hoặc dựng ủng cạnh lò sấy. Tia cực tím và nhiệt cao đẩy nhanh quá trình già hóa của cao su. Phơi trong bóng râm, nơi thoáng gió, lâu hơn vài giờ nhưng đổi lại đôi ủng sống thêm nhiều tháng.
Còn một chi tiết ít ai chú ý: bùn khô đóng cứng trong rãnh đế. Nếu không cạo sạch sau mỗi ca, lớp bùn khô sẽ lấp đầy rãnh và biến đế thành mặt phẳng. Đôi ủng khi đó trơn đúng như một đôi đã mòn hết hoa văn, dù tuổi thực còn rất mới. Một que gỗ và hai phút cuối ca giải quyết được chuyện này.
Cách Cất Ủng Và Cách Thải Bỏ Đôi Đã Mòn Hết Hoa Đế
Cuối cùng là cách cất. Để ủng nằm chồng lên nhau làm thân bị gập và sinh nếp gãy ở cổ chân, chỗ sẽ nứt đầu tiên. Dựng ủng thẳng, nhét giấy vào trong để giữ dáng và hút ẩm, treo ngược bằng móc nếu có chỗ. Cách này vừa giữ thân ủng vừa giúp lòng ủng khô hẳn, tránh mùi và nấm.
Khi đôi ủng hết vòng đời, nên cắt bỏ hoặc đánh dấu trước khi thải. Một đôi ủng đã mòn hết hoa đế nhìn bề ngoài vẫn còn tốt, và rất dễ được ai đó nhặt lại dùng tiếp mà không biết lý do nó bị loại. Đây là cách hư hại âm thầm quay lại hiện trường sau khi đã được đưa ra khỏi danh sách.


Là chuyên viên phát triển sản phẩm và kiểm định thiết bị bảo hộ lao động, tôi am hiểu sâu về các dòng sản phẩm như mũ bảo hộ, kính chống bụi, găng tay cách điện, giày chống trượt, mặt nạ phòng độc… Tôi thường xuyên cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (CE, ANSI, TCVN…) để đưa ra giải pháp bảo hộ tối ưu, đồng thời kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra trước khi cung cấp ra thị trường.


