Ai Nên Dùng Kính Bảo Hộ?
Kính bảo hộ y tế chống giọt bắn không chỉ dành cho công nhân công nghiệp nặng. Ranh giới không nằm ở tên ngành, mà nằm ở chỗ có hay không có vật bay, giọt bắn hoặc bức xạ tới được mắt trong tầm một sải tay. Các nhóm dưới đây nằm trong tầm đó:- Người lao động dưới bụi, hóa chất: công trình, nhà máy xây dựng, phân xưởng sản xuất, phòng thí nghiệm. Bụi xi măng còn mang tính kiềm, nên nó không chỉ cọ xát mà còn ăn bề mặt giác mạc khi gặp nước mắt.
- Người làm công việc như hàn, làm gỗ, điện: những ngành thường xuyên gặp tia lửa, mạt sắt và mạt gỗ văng ra. Riêng phần điện giật thì kính không xử lý được, phần đó thuộc về găng và thảm cách điện.
- Nhân viên y tế, phòng lab: giọt bắn từ bơm tiêm, từ thao tác mở nắp ống ly tâm, và hơi dung môi. Ở nhóm này hướng nguy hiểm thường là chính diện và từ dưới lên, chứ không phải từ hai bên.
- Người làm ngoài trời cả ca: bảo vệ, kỹ sư công trường, kỹ thuật viên sửa chữa. Ở đây mối nguy cộng dồn theo năm tháng chứ không gây đau ngay, nên rất dễ bị bỏ qua.

Cấu Tạo, Vật Liệu Kính Bảo Hộ
Ba bộ phận của chiếc kính giữ ba vai khác nhau: tròng chịu va đập và lọc bức xạ, khung quyết định hạt có lọt vào hay không, phần tiếp xúc da quyết định người thợ có giữ kính trên mặt hết ca hay không.Cấu Tạo Kính Bảo Hộ
Một chiếc kính bảo hộ đạt chuẩn là tập hợp của những bộ phận được thử riêng rồi lắp lại với nhau. Cấu tạo thường gồm các phần sau:- Tròng kính là bộ phận chặn trực tiếp bụi, tia lửa, mảnh vỡ kim loại và bức xạ. Tròng có thể trong suốt để không làm sai màu vật thể, hoặc nhuộm màu để đỡ chói ngoài trời. Cần phân biệt rõ hai việc: nhuộm màu làm giảm độ sáng nhìn thấy, còn chặn tử ngoại là một chỉ tiêu riêng nằm ở vật liệu và lớp phủ, phải được công bố bằng chữ trên nhãn.
- Gọng kính nâng đỡ và giữ tròng đúng vị trí trước mắt, thường làm từ nhựa dẻo hoặc nhựa kỹ thuật chịu lực. Kính bảo hộ có gọng mềm đeo lâu không đau giữ được áp lực đều trên hai thái dương. Gọng cong ôm sát còn làm hẹp khe hở hai bên, nhưng hẹp không đồng nghĩa với kín: chỉ loại có đệm viền mới được đem thử với bụi và giọt chất lỏng.
- Miếng đệm mũi và đệm tai là hai chi tiết nhỏ nhưng quyết định chiếc kính có bị tháo ra giữa ca hay không. Đệm mũi chống trượt khi người thợ cúi xuống thao tác, đệm tai ngăn vết hằn sau vài giờ đeo liên tục.
- Dây đeo, nếu có, thuộc về nhóm kính ôm kín và tấm che mặt. Dây giữ kính cố định khi có rung động hoặc luồng gió mạnh, và cho phép chỉnh lực ép viền để đệm áp đều lên da mà không hở góc nào.

Vật Liệu Sản Xuất Kính
Vật liệu tròng quyết định ngưỡng va đập mà chiếc kính vượt qua được, nên đây là chỗ không nên đổi ngang giữa hai loại nghe có vẻ tương đương:- Polycarbonate là vật liệu tròng thông dụng nhất hiện nay. Nó chịu va đập hơn hẳn tròng nhựa thường và tròng thuỷ tinh, nên gần như mọi tròng đạt ANSI Z87.1 hay EN 166 đều làm từ vật liệu này. Polycarbonate còn tự chặn phần lớn tử ngoại mà không cần nhuộm màu, đó là lý do một tròng trong suốt vẫn có thể công bố chỉ tiêu UV.
- CR-39 là nhựa quang học cho độ trong cao và bề mặt khó xước hơn, nên hay gặp ở phòng sạch và phòng nghiên cứu. Đổi lại, nó chịu va đập kém hơn polycarbonate và nặng hơn, nên không đưa vào vị trí có vật văng.
- Nhựa kháng hoá chất và chậm bắt lửa dùng cho khu có dung môi hoặc nguy cơ cháy. Ở nhóm này chỉ tiêu cần đọc không phải độ cứng, mà là danh mục hoá chất đã được thử cho lớp vật liệu đó.
- Các lớp phủ thêm — chống trầy ở mặt ngoài, chống đọng hơi ở mặt trong, lọc hồng ngoại — là màng rất mỏng phủ trên tròng. Chúng có tuổi thọ riêng và hỏng trước tròng, nên một chiếc kính hết lớp chống đọng hơi vẫn còn nguyên mức va đập nhưng đã mất lý do để người thợ chịu đeo.
Các Loại Kính Bảo Hộ Hiện Nay
Các Dòng Kính Bảo Hộ
Thị trường chia kính bảo hộ theo mối nguy mà nó đã được thử, không theo kiểu dáng:- Kính chống bụi: thiết kế kín, ôm trọn hốc mắt, có đệm viền và lỗ thoát khí gián tiếp để hạt không đi thẳng vào. Dùng ở xây dựng, mỏ đá, nhà máy sản xuất.
- Kính chống hoá chất: cũng thuộc nhóm ôm kín nhưng không có lỗ thoát khí hướng thẳng, kèm lớp chống đọng hơi vì không gian kín rất dễ hi ẩm. Kính gọng hở hai bên không thay được cho loại này dù trông giống nhau.
- Kính chống tia UV: khả năng chắn tử ngoại nằm ở vật liệu tròng và lớp phủ, không nằm ở độ sẫm màu; tròng nhuộm màu mà không công bố mức chắn UV thì chỉ đỡ chói chứ không bảo vệ. Đọc chỉ tiêu UV in trên nhãn trước khi đưa ra công trường.
- Kính lọc dùng khi hàn: tròng mang một số shade cụ thể đã qua phép thử truyền bức xạ. Tròng chỉ nhuộm sẫm màu mà không có số shade thì không chắn được bức xạ hồ quang, và với hàn hồ quang thì phải dùng mặt nạ hàn chứ không dùng kính đeo mắt.
- Kính gộp nhiều chỉ tiêu: một tròng có thể vừa đạt mức va đập, vừa có lớp chống trầy, vừa công bố chặn tử ngoại. Nhưng gộp chỉ tiêu tròng không gộp được kiểu khung: muốn chặn giọt bắn vẫn phải chuyển sang thân ôm kín.
Các Thương Hiệu Uy Tín
Một số nhà sản xuất có mặt lâu trên thị trường Việt Nam:- 3M (Mỹ): dòng sản phẩm trải từ kính gọng tới kính ôm kín và tấm che mặt, thuận khi cần mua trọn một chuỗi để đeo chồng được với nhau.
- Honeywell (Mỹ): mạnh ở nhóm ôm kín cho phòng lab và khu hoá chất.
- Proguard (Malaysia): giá mềm hơn, hay gặp ở các dự án công nghiệp cấp phát số lượng lớn.
- Delta Plus (Pháp): gọng nhẹ và ôm sát, hợp với người phải đeo liên tục cả ca.
- King’s by Honeywell: nhóm dùng cho công nghiệp nặng, khung dày và viền chắc.
Dùng Và Bảo Quản Thế Nào Cho Đúng?
Cách Chọn Mua
Năm tiêu chí dưới đây nên được kiểm theo thứ tự, vì tiêu chí sau chỉ có nghĩa khi tiêu chí trước đã đạt:- Mối nguy tại vị trí thao tác: có vật văng, có giọt bắn, có bức xạ, hay cả ba. Có vật văng thì chọn theo mức va đập; có giọt bắn thì bắt buộc chuyển sang thân ôm kín có đệm viền; có hồ quang thì phải có số shade.
- Mức va đập ghi trên nhãn: đây là con số cụ thể, không phải lời hứa. Theo ANSI Z87.1, phép thử tốc độ cao bắn viên bi thép đường kính 6,35 mm, và ngưỡng khác nhau theo chủng loại: kính gọng 45,7 m/s, kính ôm kín 76,2 m/s, tấm che mặt 91,4 m/s. Theo EN 166, ba mức va đập ghi bằng chữ: F là 45 m/s, B là 120 m/s, A là 190 m/s. Một chiếc chỉ ghi F đem ra khu đục phá là đang dùng dưới ngưỡng, và không có cách nào bù bằng việc đeo cẩn thận hơn.
- Chủng loại khung theo mối nguy chất lỏng: kính gọng hở hai bên không được đem thử với giọt chất lỏng, nên mọi công đoạn rót, pha, sang chiết đều phải dùng loại ôm kín. Đây là ranh giới chủng loại, không phải ranh giới giá.
- Cảm giác khi đeo và tầm nhìn hai bên: đeo mẫu lên rồi thử đảo mắt sang trái phải mà không quay đầu. Chiếc kính che mất vùng nhìn bên hông làm người thợ phải quay cả thân người mới thấy vật đang tới, còn chiếc cấn sống mũi thì không trụ nổi tới giờ nghỉ trưa. Với người đeo kính cận, chọn loại trùm ngoài đúng thiết kế hoặc loại gắn được tròng có độ.
- Lớp phủ tròng và số shade: chống trầy cho khu nhiều bụi mài, chống đọng hơi cho khu nóng ẩm, và số shade đúng nếu công việc có hàn cắt. Đây là tiêu chí quyết định người thợ giữ kính trên mặt hết ca hay tự tháo ra giữa chừng.
Cách Dùng Và Bảo Quản Sau Dùng
- Xả vòi trước, lau sau: cho hạt mài rời hẳn khỏi bề mặt rồi mới đụng khăn vào tròng. Chà khăn lên tròng còn bám hạt là biến chiếc khăn thành tờ giấy nhám, và vết xước sinh ra ở đó nằm lại vĩnh viễn.
- Cất nơi khô ráo: mỗi người một hộp riêng có nắp, đặt kính nằm ngửa để tròng không tì vào đáy hộp. Ngăn đựng dụng cụ kim loại là chỗ tệ nhất để nhét chiếc kính vào lúc nghỉ giữa ca.
- Tránh dung môi và chất tẩy mạnh: cồn nồng độ cao và xà phòng kiềm ăn lớp phủ quang học trước khi ăn tới tròng, làm mất lớp chống đọng hơi chỉ sau vài lần lau.
- Kiểm tra trước mỗi ca: tròng có đường nứt, có vùng rạn tia hoặc mờ đục tới mức không đọc nổi vạch thước qua tròng thì loại ngay. Con số trên nhãn là kết quả đo trên một tròng nguyên vẹn, nên nó không còn nói gì về chiếc kính đã nứt đang cầm trên tay.

Chốt Lại Trước Khi Đặt Mua Cho Cả Tổ
Kính bảo hộ chỉ nhận phần rủi ro còn sót lại sau khi máy đã có che chắn và xưởng đã có hút bụi. Ở những công đoạn có giọt bắn mạnh hoặc mảnh văng lớn, nó còn phải đi kèm bảo hộ mắt – mặt khi làm việc trong môi trường bụi bẩn đeo chồng bên ngoài, vì tấm che mặt bảo vệ vùng da quanh mắt nhưng không thay được chiếc kính bên trong. Tức là trước khi đặt hàng cho cả tổ, ba câu cần trả lời xong: tổ này đứng trước mối nguy nào, chủng loại khung nào đã được thử với mối nguy ấy, và dãy ký hiệu trên mẫu chào hàng có khớp với tài liệu kiểm định của lô không. Ba câu đó mất vài phút, nhưng chúng là khoảng cách giữa một tủ kính đầy và một tủ kính đúng loại. Cuối cùng, một chiếc kính nằm trong túi áo không chắn được gì. Vì vậy tiêu chí thứ tư và thứ năm — tầm nhìn hai bên và lớp phủ tròng — không phải phần thêm nếm cho đủ năm, chúng là phần quyết định bốn tiêu chí đầu có được đem ra dùng hay không.
Là chuyên viên phát triển sản phẩm và kiểm định thiết bị bảo hộ lao động, tôi am hiểu sâu về các dòng sản phẩm như mũ bảo hộ, kính chống bụi, găng tay cách điện, giày chống trượt, mặt nạ phòng độc… Tôi thường xuyên cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (CE, ANSI, TCVN…) để đưa ra giải pháp bảo hộ tối ưu, đồng thời kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra trước khi cung cấp ra thị trường.


