Kính Bảo Hộ Xếp Theo Cách Đeo Lên Đầu
Phần lớn tài liệu chia kính theo mức độ kín. Cách chia đó đúng nhưng chưa đủ khi người mua phải trang bị cho một dây chuyền thật, vì trên đầu người công nhân còn có mũ, khẩu trang và chụp tai. Cách đeo mới là thứ quyết định chiếc kính có ở trên mặt suốt ca hay bị đẩy lên trán sau mười phút.
Gọng cài tai kiểu kính thường. Nhẹ nhất, đeo và tháo nhanh nhất, hợp với người ra vào xưởng nhiều lượt trong ngày. Nhược điểm là hai bên thái dương và phía dưới gò má vẫn hở, nên mạt bắn từ dưới lên hoặc từ bên hông vẫn vào được mắt.
Gọng ôm có dây đeo sau gáy. Bám chắc hơn khi người đeo phải cúi xuống, ngửa lên hoặc di chuyển nhanh, nên hợp với thợ làm trên cao và thợ chui dưới gầm máy. Đổi lại, dây sau gáy vướng với quai mũ và với dây khẩu trang nếu không sắp thứ tự đeo.
Kính chụp có viền đệm quanh hốc mắt. Đây là kiểu duy nhất chặn được bụi mịn và tia chất lỏng bắn từ mọi hướng, vì viền đệm tì vào da mặt. Bù lại, phần đệm giữ hơi ẩm nên dễ đọng sương hơn hai kiểu trên, và người đeo kính cận khó đeo chồng vào bên trong.
Kính hoặc tấm che lắp trên mũ. Bộ gọng gắn vào rãnh hai bên mũ cứng, lật lên hạ xuống bằng một tay. Kiểu này hợp với việc phải bật ra bật vào liên tục như mài, cắt từng nhát ngắn. Điều kiện là rãnh mũ phải khớp với bản gọng, không được tự khoan thêm lỗ lên mũ.

Tấm che mặt lắp trên đai đầu. Đây không phải kính mà là lớp che phủ cả khuôn mặt, dùng khi mối nguy có thể làm hỏng cả phần cằm và cổ. Điểm cần nhớ: tấm che mặt không thay được kính, vì nó hở toàn bộ phía dưới và hai bên, mạt văng dội từ bàn máy vẫn đi ngược lên được mắt. Hai thứ này đi cùng nhau chứ không thay cho nhau.
Cách chọn giữa năm kiểu trên không dựa vào giá mà dựa vào hai câu hỏi. Câu thứ nhất: mối nguy đi từ hướng nào tới, chỉ từ phía trước hay từ nhiều hướng. Câu thứ hai: người đeo phải đeo liên tục hay bật ra bật vào nhiều lần trong ca. Trả lời được hai câu đó thì danh sách mẫu cần xem đã thu lại còn một hoặc hai, và phần việc còn lại chỉ là thử vừa vặn.
Người Đeo Kính Cận Chọn Kính Bảo Hộ Kiểu Nào
Danh mục cấp phát cần có một dòng riêng cho nhóm này. Người cận thị không bỏ kính thuốc ra được, nên nếu không có phương án riêng thì họ sẽ đơn giản là không đeo kính bảo hộ. Có ba đường đi, mỗi đường có cái giá của nó.
Đường thứ nhất là đeo chồng: chọn mẫu kính bảo hộ có khoang trong rộng, thiết kế để trùm ra ngoài kính thuốc. Kiểu này rẻ và cấp phát được ngay, nhưng nặng mặt hơn và hai lớp mặt kính làm tăng phản chiếu khi làm dưới đèn.
Đường thứ hai là đặt kính bảo hộ lắp tròng có độ. Đeo dễ chịu nhất và người lao động thường giữ trên mặt lâu nhất, nhưng phải đặt riêng theo đơn của từng người, thời gian chờ dài và mỗi lần đổi độ là một lần làm lại. Cách này chỉ hợp lý với vị trí cố định lâu dài.
Đường thứ ba là dùng kính chụp cỡ lớn trùm ra ngoài. Chặn tốt nhất trong ba đường, nhưng đọng sương nhiều nhất vì thể tích khí bên trong lớn mà lại kín. Nơi nào chọn cách này thì phải chọn mẫu có lỗ thông hơi gián tiếp và phải dặn người đeo không lau tròng bằng vạt áo.
Ba đường đi này không phải chuyện tuỳ nghi của từng nhà máy. Mục 1910.133 về bảo vệ mắt và mặt của Cơ quan An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp Hoa Kỳ chỉ công nhận hai phương án cho người cận thị: trang bị bảo vệ mắt có tích hợp sẵn độ kính ngay trong thiết kế, hoặc loại đeo trùm ra ngoài kính thuốc mà không làm xê dịch vị trí của kính thuốc. Vế sau chính là tiêu chí nghiệm thu khi thử mẫu — chiếc kính chụp nào đẩy gọng kính cận lệch khỏi tầm nhìn thì loại, dù nó chắn bụi tốt đến đâu. Cùng mục đó còn buộc trang bị phải có che chắn hai bên khi vị trí có nguy cơ vật văng, nên với người đứng máy mài, phương án đeo chồng phải chọn mẫu ôm kín thái dương chứ không phải mẫu gọng cài tai bản mảnh.
Đeo Kính Cùng Khẩu Trang Mà Không Bị Mờ
Kính mờ khi đeo cùng khẩu trang không phải lỗi của chiếc kính. Nguyên nhân là hơi thở ấm thoát lên qua khe hở phía sống mũi của khẩu trang, gặp mặt kính mát hơn rồi ngưng lại. Xử lý phải bắt đầu từ chiếc khẩu trang chứ không phải từ chiếc kính.
Việc đầu tiên là bóp sát thanh nẹp mũi bằng cả hai ngón tay dọc theo sống mũi, không bóp bằng một ngón. Việc thứ hai là đeo theo đúng thứ tự: khẩu trang trước, kính đặt lên sau sao cho mép dưới của kính đè lên mép trên của khẩu trang, khoá luồng hơi lại. Hai việc này không tốn tiền và giải quyết được phần lớn trường hợp.
Nếu vẫn mờ, khi đó mới tính tới chiếc kính: chọn mẫu có lớp phủ chống đọng sương ở mặt trong, hoặc chọn kính chụp có lỗ thông hơi. Cần dặn trước với người dùng rằng lớp phủ chống đọng sương rất dễ bị mài mất; lau bằng vạt áo hay giấy khô vài lần là hết tác dụng, phải rửa nước sạch rồi để khô hoặc thấm bằng khăn mềm chuyên dùng.

Kính Và Chụp Tai Trên Cùng Một Cái Đầu
Ở khu vực vừa ồn vừa có mạt văng, người lao động phải đeo cả hai thứ. Vấn đề nằm ở chỗ gọng kính chạy ngang qua vùng mà đệm của chụp tai cần tì kín vào đầu. Gọng bản to len vào giữa đệm và da sẽ tạo một khe hở, và khe hở đó làm giảm hiệu quả chắn ồn của chiếc chụp tai.
Cách xử lý là chọn kính có gọng bản mỏng và tiết diện tròn hoặc dẹt sát, thay vì gọng bản to kiểu thời trang. Với vị trí ồn nhiều, phương án gọn hơn là chuyển sang nút tai dạng nhét trong, khi đó gọng kính không còn ảnh hưởng gì. Bộ phận an toàn nên thử phối hợp thực tế trên một người trước khi đặt hàng loạt, đừng chọn riêng từng món rồi ghép lại sau.
Nguyên tắc chung cho cả cụm trang bị trên đầu: mỗi món thêm vào đều lấy đi một phần hiệu quả của món đã có. Khi phải đeo từ ba món trở lên, nên tính tới phương án dùng mũ tích hợp sẵn tấm che và bộ chụp tai lắp bên hông, thay vì chồng ba món rời lên nhau.
Ngành Nào Dừng Ở Kính, Ngành Nào Phải Lên Tấm Che Mặt
Chiếc kính chỉ che hốc mắt. Khi mối nguy có thể làm hỏng cả phần mặt thì kính không còn đủ, và phải bổ sung một lớp che rộng hơn ở phía ngoài. Kính rẻ hơn và tiện hơn nên hay được chọn thay cho tấm che mặt, kể cả khi mối nguy đã vượt ranh giới này.
Việc mài, cắt và đục bê tông sinh mảnh văng lớn và văng xa, nên vị trí đứng máy mài cần thêm tấm che mặt lật lên hạ xuống được, trong khi kính vẫn đeo bên trong để phòng lúc lật tấm che lên. Việc rót và pha dung dịch ăn mòn cũng cần lớp che rộng, vì tia bắn có thể trúng cằm và cổ.
Cách ghép đúng có thể lập thành bảng. Hướng dẫn chọn phương tiện bảo vệ cá nhân của cơ quan an toàn lao động Anh liệt kê sáu nhóm mối nguy cho mắt và gán dạng thiết bị cho từng nhóm: bắn hoá chất, bắn kim loại nóng chảy, bụi, mảnh văng, khí và hơi, bức xạ; thiết bị tương ứng chạy từ kính có gọng, kính kín, tấm che mặt cho tới mặt nạ che mặt. Lập bảng này cho từng vị trí trong xưởng rồi mới đi hỏi giá là cách chặn đứng kiểu mua theo tên món hàng. Cũng hướng dẫn đó ghi một câu đáng gạch chân cho khâu duyệt hồ sơ: kem bảo vệ da không thay thế được trang bị bảo hộ, và tương tự, việc dặn dò cẩn thận không thay được lớp che.
Với công việc hàn, kính bảo hộ thông thường không thay được thiết bị lọc ánh sáng hồ quang. Thợ hàn cần mặt nạ hàn có tấm lọc đúng cấp độ tối cho phương pháp hàn đang dùng, còn kính bảo hộ chỉ đóng vai trò lớp bên trong để chắn xỉ và mạt lúc gõ xỉ, mài mối hàn.
Cụm từ đúng cấp độ tối ở trên có bảng tra sẵn, không phải chuyện ước lượng. Quy định về hàn cắt của OSHA gắn số shade với đường kính que hàn: que hồ quang đường kính 1,6 tới 4 mm dùng shade 10, que 4,8 tới 6,4 mm dùng shade 12, que 8 tới 9,5 mm dùng shade 14. Việc nhẹ hơn thì số nhỏ hơn hẳn — hàn thiếc chỉ cần shade 2, hàn đồng bằng mỏ 3 tới 4, cắt vật dày tới 25 mm cũng chỉ 3 tới 4. Bảng này giải thích vì sao một tấm lọc mua theo thói quen thường tối quá mức cần: thợ nheo mắt, ghé sát vào vũng hàn, rồi lại nhận nhiều bức xạ hơn.
Ngược lại, nhiều nơi lại trang bị quá tay. Khu lắp ráp linh kiện nhẹ, khu đóng gói và kho hàng thường chỉ cần kính gọng thường để chắn bụi và va quệt, cấp kính chụp kín cho những vị trí đó chỉ khiến người lao động thấy nóng và tháo ra.
Trang chuyên đề an toàn mắt của viện nghiên cứu an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp Hoa Kỳ đặt thứ tự ngược lại với thói quen mua sắm: trước khi chọn loại kính, người sử dụng lao động phải làm ba việc kỹ thuật — hút bụi ngay tại nguồn phát sinh, chỉnh lại không gian thao tác, và dựng tấm chắn giữa nguồn văng với người. Chỉ sau đó mới tới bước khảo sát mối nguy để chọn loại kính. Cùng trang đó phân ba nhóm cơ chế gây tổn thương: va quệt và cào xước bởi hạt nhỏ như bụi xi măng, mạt kim loại, dăm gỗ — chiếm phần lớn số ca; xuyên thủng bởi đinh, ghim, mảnh gỗ hoặc kim loại, nhóm gây mất thị lực vĩnh viễn; và bỏng hoá chất cùng bỏng nhiệt. Ba nhóm này giúp trả lời câu mối nguy đi từ hướng nào ở phần đầu bài bằng dữ kiện thay vì bằng cảm nhận.

Đặt Kính Cho Nhà Máy: Cỡ, Số Lượng Và Chỗ Để
Một lô kính đặt về mà cả xưởng cùng một kiểu, cùng một cỡ là dấu hiệu của đơn hàng làm cho xong. Khuôn mặt người khác nhau ở sống mũi và ở khoảng cách hai thái dương, nên nên lấy ít nhất hai kiểu gọng cho người thử, rồi mới chốt tỉ lệ đặt.
Cách thử vừa vặn rất nhanh: đeo kính rồi cúi đầu về phía trước, kính không được trượt xuống. Nhìn thẳng thì mép trên của tròng phải chớm tới chân mày, không để hở một dải giữa tròng và chân mày, còn mép dưới thì không chạm gò má. Đưa tay lắc nhẹ đầu sang hai bên, kính không được xê dịch. Chiếc kính trượt là chiếc kính sẽ bị người đeo đẩy lên trán.
Về số lượng, nên đặt dư một phần cho khách tham quan và nhà thầu phụ vào xưởng, để sẵn ở phòng bảo vệ hoặc quầy tiếp đón. Kính dùng chung phải rửa và lau khô giữa hai lượt người, và nên có hộp đựng riêng cho kính sạch với kính đã dùng, đừng để chung một rổ.
Chỗ để kính nên đặt ngay lối vào khu vực bắt buộc đeo, không cất trong kho. Kèm theo là hộp khăn lau mềm và bình nước rửa. Đây là hai thứ rẻ tiền nhất trong cả nhóm trang bị bảo vệ mắt và mặt, nhưng thiếu chúng thì tròng kính xước dần và người lao động sẽ tháo kính ra vì không nhìn rõ nữa.
Cuối cùng, nên ghi ngày cấp lên hộp hoặc lên sổ. Tròng xước không phục hồi được, và một chiếc kính xước mờ còn nguy hiểm hơn không đeo vì nó khiến người ta nheo mắt và ghé sát vào chỗ đang gia công.

Một khoản chi nhỏ nữa hay bị bỏ là túi vải mềm đựng kính. Người lao động tan ca thường bỏ kính vào túi quần hoặc để úp mặt tròng xuống bàn máy, và đó là hai cách làm xước tròng nhanh nhất. Cấp kèm túi vải và dạy thói quen cất úp mặt tròng lên trên sẽ kéo dài tuổi thọ của cả lô hàng, rẻ hơn nhiều so với đặt lô kính mới sớm hơn dự tính.
Với khu vực có nhiều khách ra vào, nên tách hẳn hai dòng hàng: một dòng cấp riêng cho người làm cố định, ghi tên hoặc đánh số từng chiếc; một dòng dùng chung cho khách. Dòng dùng chung nên chọn mẫu đơn giản, dễ rửa, không có lớp phủ đặc biệt, vì lớp phủ nào cũng hỏng nhanh khi qua tay nhiều người mà không ai chịu trách nhiệm giữ gìn.
Cuối cùng là chuyện ít ai nghĩ tới: chiếc kính cũng cần chỗ trong hồ sơ điều tra khi có sự cố. Khi một người bị mạt bắn vào mắt, câu hỏi đầu tiên là lúc đó người đó có đeo kính không, kính thuộc loại nào và đã dùng bao lâu. Nếu sổ cấp phát ghi đủ ba thông tin đó thì việc rút kinh nghiệm cho cả xưởng làm được trong một buổi. Nếu không ghi, kết luận thường dừng ở câu người lao động bất cẩn, và lần sau tai nạn lặp lại y hệt ở đúng vị trí đó.


Là chuyên viên phát triển sản phẩm và kiểm định thiết bị bảo hộ lao động, tôi am hiểu sâu về các dòng sản phẩm như mũ bảo hộ, kính chống bụi, găng tay cách điện, giày chống trượt, mặt nạ phòng độc… Tôi thường xuyên cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (CE, ANSI, TCVN…) để đưa ra giải pháp bảo hộ tối ưu, đồng thời kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra trước khi cung cấp ra thị trường.


